Top 9 Người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất trong lịch sử

18-02-2021 9 3498 1 3

Báo lỗi

Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, đó đều là những đức tính tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã có biết bao tấm gương phụ nữ yêu nước được sử sách lưu danh. Từ thời Bà Trưng bà Triệu cho tới thời đại Hồ Chí Minh đã có hàng triệu triệu phụ nữ can trường hy sinh vì nền độc lập của nước nhà. tiếp về sau là những con người tiêu biểu nhất.

123456789

1


Hoàng Thu Hằng

Hai Bà Trưng – Nữ vương thứ nhất trong lịch sử

Danh hiệu này giành cho hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Họ trở thành những nữ hoàng thứ nhất, cai trị vương quốc, dân tộc, sau khi tổ quốc được giải phóng, hồi đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Sử cũ đều chép Hai Bà là dòng dõi lạc tướng (người đứng đầu bộ lạc) Mê Linh (miền đất rộng, giữa Ba Vì và Tam Đảo) thời Hùng Vương. Truyền thuyết nói Hai Bà là con gái bà Man Thiện, cũng là một phụ nữ đảm lược, quê nhà ở vùng Ba Vì. Ngọc phả ở những làng Hạ Lôi và Hát Môn – những nơi có đền thờ chính của Hai Bà – đều chép Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào trong ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). những sử cũ cũng chép rằng Trưng Trắc có ông xã là Thi Sách, dòng dõi lạc tướng Chu Diên (miền đất dọc sông Đáy). Đây là kết quả của một cuộc “hôn nhân chính trị”, nhân đấy mà link được lực lượng của hai miền đất quan trọng nhất của non sông thời bấy giờ. Lực lượng link ấy là hạt nhân của một cuộc khởi nghĩa đồng loạt, rộng lớn, mãnh liệt, nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên) nhân việc Thái thú (quan cai trị nhà Hán) ở Giao Chỉ (miền đồng bằng Bắc Bộ) là Tô Định giết hại Thi Sách.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi và được tôn làm vua, đứng đầu tổ quốc độc lập trong thời gian ba năm. Sau đó, nhà Hán sai lão danh tướng Phục Ba tướng quân Mã Viện cầm đầu đại quân sang tái xâm lược, Hai Bà Trưng đã dũng cảm đương đầu cùng quân giặc, tổ chức kháng chiến đánh những trận lớn từ Tây Vu, Lãng Bạc đến Cấm Khê và sau cuối đã hy sinh anh dũng vào mùa hè năm Quý Mão (năm 43 sau công nguyên), để lại tấm gương oanh liệt nghìn thu. Hiện nay ở nhiều địa phương trong toàn nước có đền thờ Hai Bà Trưng và những tướng lĩnh của Hai Bà.

Hai Bà Trưng - Nữ vương đầu tiên trong lịch sử
Hai Bà Trưng – Nữ vương thứ nhất trong lịch sử
Hai Bà Trưng - Nữ vương đầu tiên trong lịch sử
Hai Bà Trưng – Nữ vương thứ nhất trong lịch sử


2


Hoàng Thu Hằng

Lý Chiêu Hoàng – Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử

Lý Chiêu Hoàng còn gọi là Lý Phế hậu hay Chiêu Thánh Hoàng hậu gọi tắt là Chiêu Hoàng, là hoàng đế thứ 9 và cũng là sau cuối của triều đại nhà Lý, trị vì từ năm 1224 đến năm 1225. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam, nhưng không phải là vị vua nữ thứ nhất, vị nữ quân chủ thứ nhất là Nữ vương Trưng Trắc. Đặc biệt hơn, bà được chính vua cha Lý Huệ Tông ra chỉ truyền ngôi, dù bên trong có khả năng do sự sắp đặt của Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, đang nắm quyền lực trong triều, cũng là chú họ bên ngoại của bà.

Năm 1226, Chiêu Hoàng được Trần Thủ Độ sắp xếp nhường ngôi cho Trần Cảnh (Trần Thái Tông), triều đại nhà Lý cai trị Đại Việt hơn 200 năm đã chính thức kết thúc. Sau khi nhượng vị, Chiêu Hoàng trở thành Chiêu Thánh hoàng hậu của Thái Tông cho tới khi bị phế truất vào năm 1237 (lúc đó Chiêu Hoàng 19 tuổi), vì bấy giờ bà không sinh được con nối dõi. Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, người kế vị ngôi hoàng hậu sau đó, đó là chị ruột của bà.

Sau năm 1258, ở tuổi 40, bà tái giá lấy Lê Phụ Trần, một viên tướng có công cứu giúp Thái Tông. Hai người sống với nhau hơn 20 năm và sinh được 1 trai là Thượng vị hầu Lê Tông và 1 gái là Ứng Thụy công chúa Ngọc Khuê. Bà qua đời ngay sau Thái Tông khoảng 1 năm. Cuộc đời của bà đầy phức tạp và thảm kịch, trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều tác phẩm thi ca nhạc họa.

Tượng thờ Lý Chiêu Hoàng tại đền Rồng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Tượng thờ Lý Chiêu Hoàng tại đền Rồng – Từ Sơn – Bắc Ninh
Lý Chiêu Hoàng - Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử
Lý Chiêu Hoàng – Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử

3


Hoàng Thu Hằng

Hồ Xuân Hương – Nữ thi sĩ tài hoa, độc đáo và hài hước nhất

Hồ xuân Hương sinh vào năm (1772-1822) (2) con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu TP Nghệ An. Theo một số tài liệu dẫn chứng: Hồ Sĩ Anh đời nhà Lê sinh bốn người con trai: Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyền, Hồ Phi Cơ, Hồ Phi Tích (1665-1734 đậu Hoàng giáp năm 1700). Hồ Thế Viên là ông Tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn đã đổi từ họ Hồ sang Nguyễn, còn Hồ Phi Cơ là ông tổ bốn đời cuả Hồ phi Mai tức nữ sĩ Xuân Hương. Như vậy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương là anh em cùng họ ông tổ năm đời.

Nhà thơ nữ tài hoa, độc đáo và hài hước nhất là Hồ Xuân Hương. Bà sống vào cuối thời Hậu Lê, là tác giả của hơn 50 bài thơ vừa trữ tình, vừa sắc sảo, mới lạ, lại đa nghĩa và mang tính hài hước, châm biếm sâu cay như: “Bánh trôi nước”, “Tự tình”, “Lấy ông xã chung”,… Bà được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Hồ Xuân Hương có phong thái riêng tiêu biểu cho thái độ tự nhiên tràn đầy tình cảm trong sáng, thơ Hồ Xuân Hương rất dân dã, duyên dáng giàu khả năng gợi cảm, gợi tình, chứa chan tự tình và cảm khoái, không dùng hán tự điển tích. Bà có biệt tài sử dụng điệp khúc, âm điệu và tiết tấu, thích hợp với từng ý, từng hoàn cảnh. Dù muốn chê hay khen, đọc thơ Xuân Hương cảm thấy cái vui vui xen lẫn vào hồn, cái hay trong thơ Xuân Hương rất tuyệt vời, nhưng bài viết giới hạn không thể trình diễn và trích giải hết được… Hồ Xuân Hương là nhà thơ độc đáo có một không hai trong văn học sử …& Đại

Hồ Xuân Hương Thơ chọn lọc - Nhà xuất bản Văn học
Hồ Xuân Hương Thơ chọn lọc – Nhà xuất bản Văn học
Hồ Xuân Hương - Nữ thi sĩ tài hoa, độc đáo và hài hước nhất
Hồ Xuân Hương – Nữ thi sĩ tài hoa, độc đáo và hài hước nhất

4


Hoàng Thu Hằng

Sương Nguyệt Ánh – Nữ Tổng biên tập thứ nhất

Trong chặng đường đầu của báo chí quốc ngữ Việt Nam, phụ nữ tham gia vẫn chưa nhiều nhưng có vai trò không nhỏ. Lịch sử từng trang trọng ghi nhận tên tuổi, sự nghiệp một nữ chủ bút nổi tiếng – Nhà thơ Sương Nguyệt Anh. Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Ngọc Khuê (có nơi ghi là Nguyễn Xuân Khuê hay Nguyễn Xuân Hạnh ), sinh ngày 8/3/1864 tại Ba Tri (Bến Tre). Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và được sinh ra vào thời kỳ nhà thơ về Bến Tre nương mình “cho tròn phận tóc da” trong những ngày chạy giặc. Lớn lên giữa cảnh tổ quốc đang rên xiết dưới gót quân thù; bên người cha – nhà thơ, chí sĩ tài năng, giàu khí tiết, suốt đời cùng ngọn bút không mệt mỏi đấu tranh vì nhân đạo, vì tự do và người mẹ hiền thục, tảo tần, bà sớm thừa hưởng được chí cha, đức mẹ, có bản lĩnh hơn người và luôn nuôi ước vọng tạo thành “một sự nghiệp”. Từ nhỏ đã nổi danh tài sắc nhưng bước vào đời, bà không gặp may mắn. Lấy ông xã năm 24 tuổi, được mấy năm thì ông xã chết, bà ở vậy nuôi con gái. Lúc này cha mẹ đều đã qua đời, cảnh ngộ cô đơn lại càng thêm neo đơn, người góa phụ Xuân Khuê điểm thêm một chữ “Sương” trước tên hiệu “Nguyệt Anh” là vì thế!…

Sương Nguyệt Anh đã toan an bài với số phận, không màng tới thế sự, nhưng tài năng, nhiệt huyết của bản thân cùng cảnh đời đau thương mà sôi động lại chẳng thể làm bà dửng dưng. Những năm đầu thế kỷ XX, khi Phan Bội Châu phát động trào lưu “Đông du” bà nhiệt tình hưởng ứng, bán cả đất vườn lấy tiền gửi giúp du học viên. trào lưu bị đàn áp rồi thất bại, bà vẫn không nản lòng, tiếp tục tìm mọi cách góp sức mình vào công cuộc cứu nước… Năm 1917, được một nhóm chí sĩ ái quốc mời ra làm chủ bút tờ báo nữ nhi chung (Tiếng chuông của nữ nhi) – tờ báo thứ nhất của phụ nữ Việt Nam, bà vui vẻ nhận lời ngay. Đến tháng 7/1918, tờ nữ nhi chung phải đình bản, bà lại về Ba Tri, theo gương cha ngày trước – dạy học, bốc thuốc và sáng tác thơ văn cho tới ngày tạ thế (9/1/1922). Bằng toàn bộ tài năng, tâm huyết, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp chung, Sương Nguyệt Anh đã để lại trong tâm trí người Việt Nam hình ảnh đẹp về một nữ chủ bút thứ nhất, một nhà thơ đa tài và một người tiên phong trong cuộc sống đấu tranh vì quyền lợi, địa vị của phụ nữ nước nhà. Ngày nay, tên bà được đặt cho nhiều đường phố, trường học, hội bút, câu lạc bộ… với niềm trân trọng, tự hào sâu xa. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong (tác giả Điếu cổ hạ kim thi tập) đã dành những lời thật xứng đáng khi viết về Sương Nguyệt Anh:
Gương tỏ đời nay trang tiết phụ,
Lâu đài tiếng tốt tạc non sông.

Sương Nguyệt Ánh - Nữ Tổng biên tập đầu tiên
Sương Nguyệt Ánh – Nữ Tổng biên tập thứ nhất
Sương Nguyệt Ánh - Nữ Tổng biên tập đầu tiên
Sương Nguyệt Ánh – Nữ Tổng biên tập thứ nhất

5


Hoàng Thu Hằng

Nguyễn Thị Chiên – Nữ Anh hùng thứ nhất của quân đội hiện đại

Nguyễn Thị Chiên (1930 – 2016) sinh tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Bà là Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam và Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thứ nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1946 đến năm 1952, Nguyễn Thị Chiên tham gia xây dựng cơ sở kháng chiến ở 5 thôn, xây dựng và chỉ huy Đội du kích xã Tán Thuật (nay là thị trấn Thanh Nê) đánh địch chống càn, phá giao thông đường 39, phá tề… Bà đã tiêu diệt, làm bị thương và bắt 15 quân địch. tháng tư năm 1950, trong những khi đưa cán bộ về hoạt động tại xã, bà bị quân địch bắt, dụ dỗ, tra tấn suốt 3 tháng rưỡi. Nhưng bà vẫn trung thành, không khai báo.

Tháng 10 năm 1951, trong một trận phục kích đánh địch trên đường 39, bà đã bắn bị thương 1 quân địch, bắt sống 6 lính địch, thu được 4 súng. Tháng 12 năm 1951, khi quân đội Pháp lùng sục vào làng, Bà đã chỉ huy du kích bất ngờ xông ra bắt sống 4 lính Pháp. Năm 1952, Nguyễn Thị Chiên được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc. Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ nhất được nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Chiên về công tác tại Tổng cục Chính trị, Quân khu Thủ đô. Bà được phong quân hàm trung tá năm vào năm 1984. Nguyễn Thị Chiên qua đời vào lúc 8h20 phút, sáng ngày 1/6/2016, tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang (Long Biên, Thành Phố Hà Nội), hưởng thọ 87 tuổi.

Nguyễn Thị Chiên - Nữ Anh hùng đầu tiên của quân đội hiện đại
Nguyễn Thị Chiên – Nữ Anh hùng thứ nhất của quân đội hiện đại
Nguyễn Thị Chiên - Nữ Anh hùng đầu tiên của quân đội hiện đại
Nguyễn Thị Chiên – Nữ Anh hùng thứ nhất của quân đội hiện đại

6


Hoàng Thu Hằng

Võ Thị Sáu – Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất

Võ Thị Sáu (1037 – 1953), quê ở Bà Rịa, chị được gọi là “ Người con gái đất đỏ”. Khi giặc Pháp tràn vào quê nhà, Võ Thị Sáu mới 12 tuổi, đã ném lựu đạn giết chết ba tên chỉ huy Pháp. Chị nổi tiếng về tình báo, biệt động và giao liên đặc biệt. Ám sát hụt tên việt gian Đốc phủ Tòng, Võ Thị Sáu bị Pháp bắt năm 15 tuổi.

Ở trong tù, chị vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 12 năm 1952, Pháp đem chị ra Côn Đảo giam ở nhà lao “Đá trắng”. Vốn thích múa hát từ nhỏ, khám xử tử không làm chị thôi hát. Khi giặc xử bắn chị, đưa một cố đạo đến rửa tội, chị mắng: “Tao là tình nhân nước, tao vô tội, chỉ chúng mày là quân cướp nước tao, giết dân tao mới là kẻ có tội.”

Trước khi chết, chị hô vang: “Việt Nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”. Võ Thị Sáu hi sinh khi gần đầy 17 tuổi. Năm 1993, Nhà nước đã truy tặng chị danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Huân chương chiến công hạng Nhất.

Võ Thị Sáu - Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất
Võ Thị Sáu – Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất
Võ Thị Sáu - Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất
Võ Thị Sáu – Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất

7


Hoàng Thu Hằng

Hoàng Xuân Sính – Nữ giáo sư, TS toán học thứ nhất

Hoàng Xuân Sính (sinh ngày 8 tháng 9 năm 1933) là một chính khách, nhà quản lý giáo dục, nhà toán học, nữ giáo sư, nhà giáo Nhân dân, nữ TS toán học thứ nhất của Việt Nam. Bà là người làng Cót, Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội (nay thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy). Suốt thời niên thiếu gia đình bà sống tận nhà số 102 phố Hàng Bông, Thành Phố Hà Nội. Mẹ của bà mất sớm khi bà mới được 8 tuổi, cha của bà là ông Hoàng Thúc Tấn, sau đó đã tục huyền với cùng một nữ người kinh doanh về vải sợi. Ông và người vợ sau là những nhà tư sản dân tộc, là nhà tài trợ và hỗ trợ cơ sở vật chất cho báo Thanh Nghị, một tờ báo có quan điểm dân tộc tiến bộ thời bấy giờ. Trong nhiều tài liệu, bà thường được ghi chú là “cháu gái của giáo sư Hoàng Xuân Hãn”. Tuy nhiên, đây chỉ là mối giao tiếp thân tình giữa hai người chứ không phải là quan hệ họ hàng.

Bà làm nghiên cứu sinh trong nước dưới sự hướng dẫn của nhà Toán học nổi tiếng người Pháp Alexander Grothendieck. Luận án TS Toán học của bà có nhan đề “những Gr-phạm trù”[6] được bảo vệ tại ĐH Paris 7 vào năm 1975. Trước khi sang Paris bảo vệ luận án, bà đã trình diễn kết quả nghiên cứu của tôi tại Đại hội Toán học Việt Nam năm 1971 ở Thành Phố Hà Nội và Đại hội Toán học trái đất năm 1974 được tổ chức ở Vancouver (Canada). Bà giảng dạy và viết giáo trình về đại số. Sau khi bảo vệ luận án TS tại Paris, bà trở về Việt Nam giảng dạy toán học và biên soạn sách giáo khoa ĐH và phổ thông. Bà từng là chủ nhiệm bộ môn đại số, trưởng khoa Toán-Tin học tại trường ĐH Sư phạm Thành Phố Hà Nội.

Bà là một trong những người sáng lập ra trường ĐH Thăng Long, trường ĐH Tư thục thứ nhất ở Việt Nam (15/12/1988). Hiện nay bà đang là Chủ tịch Hội đồng quản trị của trường. Bà là thành viên Hội đồng xét tặng phần thưởng khoa học Kovalevskaya ở Việt Nam. Nhiều lần bà được giao trọng trách là Trưởng Đoàn học viên Việt Nam đi dự Olympic Toán Quốc tế. Bà cũng dành thời gian tham gia nhiều hoạt động xã hội đa dạng như Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI (2004-?), Ủy viên Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ vương quốc, Ủy viên Hội đồng Giáo dục vương quốc, Ủy viên Hồi đồng Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Hoàng Xuân Sính - Nữ giáo sư, tiến sĩ toán học đầu tiên
Hoàng Xuân Sính – Nữ giáo sư, TS toán học thứ nhất
Hoàng Xuân Sính - Nữ giáo sư, tiến sĩ toán học đầu tiên
Hoàng Xuân Sính – Nữ giáo sư, TS toán học thứ nhất

8


Hoàng Thu Hằng

Nguyễn Thị Minh Khai – Nữ chiến sĩ cộng sản Vệt Nam thứ nhất

Bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh TP Nghệ An. Theo website của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thì bà sinh ngày 01 tháng 11 (tức 30 tháng 9 âm lịch theo báo Đại đoàn kết). Cha bà là ông Nguyễn Huy Bình, người làng Mọc (Nhân Chính, Thành Phố Hà Nội), làm công chức hỏa xa ở Vinh, thường gọi là Hàn Bình. Mẹ là Đậu Thị Thư, quê Đức Tùng, Đức Thọ, TP. Hà Tĩnh, làm nghề buôn bán nhỏ. Trước năm 1940, gia đình bà sống tại 132 phố Maréchal Foch (nay là phố Quang Trung), Vinh. Về sau, gia đình bà về sống ở quê mẹ là xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh TP. Hà Tĩnh.

Năm 1919, bà bắt đầu học chữ Quốc ngữ rồi vào trường tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh. Năm 1927, bà tham gia hoạt động trong trào lưu công nhân ở Vinh và tham gia xây dựng Tân Việt Cách mạng Đảng, sau đó được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ. Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở văn phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản. Theo nghiên cứu của học giả Sophie Quinn-Judge, tài liệu từ văn khố của Đệ Tam Quốc tế cho thấy Nguyễn Thị Minh Khai nhận mình là vợ của Hồ Chí Minh vào thời điểm năm 1931 (sau này tại Moskva cuối năm 1934, bà cũng đã viết rằng mình đã có gia đình với “Lin”, bí danh của Hồ Chí Minh vào thời điểm đó). Tuy nhiên, Sophie Quinn-Judge cũng phát biểu rằng mình “không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân thật sự hay không” vì trong những thư từ của họ thường sử dụng nhiều loại mật mã, và nói chung những người hoạt động cách mạng rất có thể xem là “thuộc về một trái đất khác, vượt khỏi những khuôn khổ đạo đức bình thường” nên khó mà biết rõ cách thức hoạt động của họ. Sophie Quinn-Judge cũng tìm ra một bức thư mà Nguyễn Thị Minh Khai viết năm 1933, Trong số đó bà khẳng định rằng mình không bị vướng bận bởi chuyện gia đình, và “người ông xã” duy nhất của bà đó là sự nghiệp Cách mạng.

Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây. Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong. Theo những tiểu sử về bà ở Việt Nam thì bà thành hôn với Lê Hồng Phong vào năm 1935 tại Moskva, tuy nhiên Theo chị Sophie Quinn-Judge thì không tồn tại những dẫn chứng đương thời về cuộc hôn nhân này. Hai người sinh được một con gái là Lê Nguyễn Hồng Minh (sinh vào năm 1939). Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy thành phố sài thành – Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào cách mạng 1936-1939 ở thành phố sài thành. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.

Ngày 30 tháng 7 năm 1940, bà bị bắt (cùng với Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Hữu Tiến – tác giả cờ đỏ sao vàng) ngay sau phiên họp của Xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị giam tại Khám Lớn thành phố sài thành. Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên phía ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo trào lưu đấu tranh. Sau khi Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án xử tử và bị xử bắn tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn (nay thuộc TP.HCM) ngày 28 tháng 8 năm 1941.

Hai vợ chồng Lê Hồng Phong - Nguyễn Thị Minh Khai
Hai vợ ông xã Lê Hồng Phong – Nguyễn Thị Minh Khai
Nguyễn Thị Minh Khai - Nữ chiến sĩ cộng sản Vệt Nam đầu tiên
Nguyễn Thị Minh Khai – Nữ chiến sĩ cộng sản Vệt Nam thứ nhất

9


Hoàng Thu Hằng

Nguyễn Nhược Thị Bích – Người làm cô giáo của nhiều vua nhất

Bà Nguyễn Thị Nhược Bích sinh vào năm 1830, quê làng An Phước, tỉnh Ninh Thuận (trước đây là Phan Rang), con thứ tư của Nguyễn Nhược Sơn (có tên thường gọi là Nguyễn Nhược San). Nguyễn Nhược Sơn là một nhân tài hiếm hoi của vùng Chiêm Thành, Ninh Thuận. Ông có tính tình khẳng khái, không chịu ràng buộc trong khuôn phép, gặp việc gì đáng làm là làm không cần suy nghĩ và cũng không sợ hậu quả xấu đến với mình. Bởi thế, trong quãng đời làm quan, ông không ít lần bị bãi chức. Cũng nhờ tài trí thông minh và sự phóng khoáng của người cha mà bà Nguyễn Thị Nhược Bích đã được ăn học và bộc lộ tài năng của tôi. Bà đi theo cha làm quan nhiều nơi nhưng bất kể ở nơi nào bà cũng được mọi người ca tụng.

Năm 1848, bà được tiến cử vào cung cho Vua Tự Đức. Trong một buổi ngâm vịnh, Vua Tự Đức đề thơ Tào Mai (Hoa mai sớm nở) và bài hoạ của bà được vua khen tặng cho 20 nén bạc, đồng thời cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư. Năm 1868, bà được Vua Tự Đức giao cho việc dạy học cho những hoàng tử – sau này là những vị vua Đồng Khánh, Kiến Phúc. Trong cung đình với tài thơ văn của tôi, bà đã dạy cho những hoàng tử những kỹ năng và kiến thức về văn học, hán nôm, phép tắc lễ nghi nơi cung cấm… Vì thế, người ta gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử. Với công lao đóng góp của bà cho triều đình, nhà Nguyễn đã lần lượt phong cho bà những chức: Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860), rồi chức Quý nhân. Tư duy của bà theo khuynh hướng chính thống nên bà đã phải chịu đựng sự chuyên chế của hai quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trong thời kỳ “Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng mà thay đến ông ông vua).

Năm 1885, Kinh thành thất thủ, Vua Hàm Nghi hạ Chiếu Cần vương, kêu gọi quan dân chống Pháp, bà phải Hộ giá Tam cung (thân mẫu của hai bà Chánh phi và Thứ phi của Vua Tự Đức) chạy theo vua ra Quảng Trị. Đến Quảng Trị mới được vài hôm, Tam cung không chịu được cảnh khổ cực nên đã quay quay về Khiêm lăng chịu sự quản chế của người Pháp. Trong thời gian bà ở bên cạnh Vua Tự Đức, bà đã theo dõi và nắm được toàn bộ những sự việc xảy ra trong Cung đình Huế từ sau ngày Vua Tự Đức băng hà (19/7/1883) cho tới ngày Kinh thành Huế thất thủ (5/7/1885). Với sự thông minh và hiểu biết của tôi, bà đã viết nên tác phẩm Hạnh Thục Ca, gồm 1018 câu lục bát, chữ nôm. Tác phẩm nói về sự việc thực dân Pháp sang xâm lược VN và ca tụng công lao của Vua Tự Đức; việc lộng quyền của hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trong viếc phế lập những vua: Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi.

Lời thơ trong Hạnh Thục Ca có một âm điệu nhẹ nhàng, phảng phất một nỗi buồn man mác. Mặc dù nhìn nhận sự việc trong triều đình với nhãn quan của một bà hoàng trong cung cấm nhưng Hạnh Thục Ca vẫn được lịch sử Việt Nam đánh giá là nguồn sử liệu có ý nghĩa sâu sắc lịch sử và văn học quý giá. Không phải là một người thông minh, tài năng thơ văn, có lòng yêu nước thì không ai rất có thể viết được tác phẩm ấy. Từ sau ngày Vua Tự Đức mất, việc biên soạn Sắc dụ của Lưỡng Tôn Cung (mẹ Vua Tự Đức và bà Trang Ý, vợ chính của Vua Tự Đức) đều do một tay bà soạn thảo. Đến đời Vua Thành Thái (1892) bà được phong chức Tam Phi Lễ Tần. Bà mất vào năm Duy Tân thứ ba (1909), thọ 79 tuổi.

Tên của bà được đặt cho tên trường tiểu học
Tên của bà được đặt cho tên trường tiểu học
Nguyễn Nhược Thị Bích - Người làm cô giáo của nhiều vua nhất
Nguyễn Nhược Thị Bích – Người làm cô giáo của nhiều vua nhất

Từ khóa: Top 9 Người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất trong lịch sử, Top 9 Người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất trong lịch sử, Top 9 Người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất trong lịch sử

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *