Top 5 Bài văn Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ) (Ngữ văn 8) hay nhất

17-03-2021 5 39 0 0

Báo lỗi

Bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ được sáng tác năm 1934, in trong tập “Mấy vần thơ” thể hiện đề tài lớn xuyên suốt trong văn học Việt Nam: đề tài yêu nước. Với ngôn ngữ và nhạc điệu thơ phong phú, giàu chất hình tượng, tạo hình, bài thơ rất thành công khi mượn lời con hổ trong vườn bách thú để thể hiện sự u uất của lớp những người thanh niên trí thức yêu nước đồng thời thức tỉnh ý thức cá nhân. Mời những bạn đọc tìm hiểu thêm một số bài văn Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng mà Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345

1


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 1

Nhớ rừng của Thế Lữ ra mắt năm 1934, đó là lúc mà vương quốc ta vẫn chìm trong nỗi nhục của những kiếp nô lệ lầm than. Nỗi đau mất nước trong suốt một thời gian dài trở thành chủ đề nhớ tiếc căm hờn của biết bao thi sĩ. Cảm nhận sâu sắc nỗi niềm dân tộc ấy, Thế Lữ đã mượn lời con hổ bị giam giữ trong vườn bách thú mà nói lên niềm tâm sự u uất, căm hờn và niềm khát khao tự do mãnh liệt của những kiếp nô lệ lầm than.

Bài thơ được tác giả ngắt thành năm đoạn Trong số đó đoạn một hợp với đoạn bốn, đoạn hai hợp với đoạn ba tạo thành một cặp ý đối lập nhau: cảnh vườn bách thú nhỏ hẹp và tù hãm với cảnh núi rừng hùng vĩ nơi con hổ ngự trị, tung hoành những “ngày xưa”.

Bài thơ mở đầu đầy căm hờn nhưng cũng đầy bất lực của con hổ. Sự căm hờn ấy là kết quả của sự dồn nén lâu ngày trong chật chội và ngột ngạt. Nó bứt rứt, khó chịu và u uất cực kì. Khổ thơ là sự chán ngán cái thực tại, chán ngán “lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ” dám “giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”. Cảnh tù đày “nhàn rỗi” như một thứ đồ chơi thực sự trở thành một nỗi nhục nhã đối với chúa tể của rừng già. Khổ bốn tiếp tục mở ra “niềm uất hận” khi chúa sơn lâm mỗi ngày phải chứng kiến những sự đổi thay tầm thường và giả dối. Đó là “những cảnh sửa sang” giả làm “bí hiểm” nhưng chỉ là sự bắt chước một cách vụng về cái chốn hoang vu và cao quý của sơn lâm.

Đối lập với cảnh ở vườn bách thú là cảnh chốn âm u và hùng tráng của rừng già được mở ra ở khổ hai, ba. Ở cái nơi sơn cùng thủy tận ấy, hổ dõng dạc, đường hoàng trong vai chúa sơn lâm. Đó là chốn hoang vu mà thảo hoa nhiều đến nỗi không ai nhớ hết tên và tuổi. Chốn thiên đường của chúa tể muôn loài chứa chan những kỷ niệm, những chiến tích oai hùng của cái thuở được tự do. Nhưng đau đớn thay với hổ, những chiến tích ấy giờ đây chỉ còn là chuyện của “ngày xưa”. Chính vì thế mà cái ước muốn và niềm khao khát được tự do của chúa sơn lâm mới cuộn dâng trong những dòng thơ cuối. Đó là cái ước muốn được trở về với cái uy danh thực sự, trở về với cuộc sống tự do của rừng già.

Như vậy bài thơ đúng là tâm trạng đầy thảm kịch của chúa rừng khi bị sa cơ, bị thất thế, bị giam giữ. Bài thơ đặt trong hoàn cảnh lịch sử vương quốc những năm 30 thì nỗi tủi nhục, cay đắng căm hờn của con hổ cũng đồng điệu với thảm kịch của đồng bào ta trong cái cảnh gông xiềng của cuộc đời nô lệ.

Bài thơ là minh chứng cho một trong thực tiễn sáng tác khá phổ biến trong tầng lớp văn nghệ sĩ và cũng là một nét tâm trạng của tầng lớp tiểu tư sản ở VN lúc đó. Trí thức văn nghệ sĩ lãng mạn giàu lòng yêu nước nhưng sự o ép nhiều khi đến dã man của bọn thực dân đã làm cho cái tinh thần dân tộc của họ dù rất muốn được thể hiện nhưng cũng chỉ tìm cách nào đó mà phản kháng gián tiếp thôi. Nhớ rừng chọn lời con hổ để thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân tộc là vì như vậy. Chọn lời con hổ, Thế Lữ ít phải dè dặt hơn trong nội dung cảm xúc. bằng phương pháp này tác giả hoàn toàn có thể phô bày toàn bộ những “nhố nhăng” của hiện thực từ đó mà thể hiện sự phản kháng hiện thực và niềm khát khao mãnh liệt cuộc sống tự do của đồng bào ta.

Nhớ rừng có cách thể hiện nội dung cảm xúc giống với Thề non nước hay Muốn làm thằng Cuội. Nội dung tư tưởng của bài thơ được thể hiện gián tiếp mà sắc sảo. Hình tượng chúa sơn lâm với nỗi nhớ rừng, nỗi đau sa cơ, thất thế cũng đúng là thảm kịch của dân tộc, là tình yêu quê tha thiết và là khát vọng tự do.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 2

Nhớ rừng là một bài thơ nổi tiếng của trào lưu Thơ mới. Nó cũng là một bài in được dấu ấn đậm và bền trong nhiều thế hệ bạn đọc – Tác giả của nó – thi sĩ Thế Lữ, là một nhà thơ tài năng, người có công đầu trong trào lưu Thơ mới. hoàn toàn có thể nói ông đã nhập thân hoàn toàn vào hình tượng con hổ trong bài, mượn con hổ để bộc lộ tâm sự của một thanh niên trí thức trước cuộc đời tù túng, nô lệ.

Một khía cạnh rõ nét của tâm sự ấy, là nỗi “tủi nhục” vì tình hình của thân phận:

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,

Để làm trò lạ mắt, thứ đỏ chơi,

Chịu chung bầy cùng bọn gấu dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Nỗi tủi nhục đến cao độ, chuyển thành phẫn uất, căm hờn. Bị mất tự do trong “cũi sắt”, đành thúc thủ bất lực “nằm dài trông ngày tháng dần qua”, lại còn bị “lũ người kia”, tác giả muốn ám chỉ ai đây? Phải chăng bọn thực dân người quốc tế xa lạ nhào cợt, khinh thường:

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Xưa kia ta từng là “chúa tể của muôn loài”, “oai linh” ta ngự trị cả núi cao rừng sâu. Nay bị nhốt củi, cùng thân phận “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi” bị coi cá mè một lứa với bầy gấu dở hơi, cặp báo nông nổi! Nhục nhã, uất hận biết bao.

Cùng với “niềm uất hận ngàn thâu” ấy, là thái độ khinh ghét. Và khinh cũng đến cao độ như căm hờn, con hổ này không tồn tại gì lưng chừng, nửa vời cà. Nó ghét toàn bộ những cảnh tượng môi trường xung quanh, từ:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối.

cho tới:

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém.

Nó khinh ghét toàn bộ cái môi trường áp đặt giả tạo mà “lũ người kia” đã thiết kế bày đề ra. Nó nhận thấy toàn bộ chỉ là trò nhái lại, là lối “học đòi” cái môi trường sống đích thực của nó xưa kia, cái “cảnh sơn lâm bóng cả, cây già – với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” mà nó không thể nào quên được, mà nó mãi mãi nhớ thương. Phải chăng lầm sự con hổ ở đây, một lần nữa lại phản chiếu tâm sự của chàng thanh niên Nguyễn Thế Lữ – người từng có thời hoạt động trong một “hội kín” yêu nước? Cái tâm sự bất bình, phủ định thứ văn minh “Tây Tàu nhố” nhăng” đang thay thế cho những “vẻ hoang vu” của “bóng cả cây già” “những đêm vàng bên bờ suối”, “những bình minh cây xanh nắng gội”… một cách hình dung, gợi nhớ đến những giá trị văn hoá cổ truyền của Tổ quốc?

Nhưng có lẽ luồng tâm sự xuyên suốt, điều canh cánh thường xuyên hơn cả trong lòng con hổ là nỗi nhớ – một nỗi nhớ vừa da diết xót xa, vừa mênh mang hoành tráng. Đó là nỗi “nhớ rừng” cao quý, thiêng liêng, đúng như đầu đề bài thư xác định. Ta dễ dàng nhận thấy hai đoạn thơ tả nỗi nhớ này lập trung, đậm đặc nhất – đoạn thứ hai và thứ ba trong bài – là hai đoạn có nhiều cảnh sắc huy hoàng hấp dẫn nhất, có nhạc điệu lôi cuốn say mê nhất. Nhớ làm sao bóng dáng xưa kia của ta “bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” giữa “sơn lâm bóng cả, cây già – với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”, đẹp đẽ, uy nghi, hùng tráng biết bao! Nhớ làm sao.

… những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

… những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới?

… những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng?

Những kỉ niệm mới lộng lẫy, hùng vĩ, nên thơ nên nhạc biết bao!

hoàn toàn có thể nói Thế Lữ đã chứa chất vào lời con hổ trong vườn này tâm sự của những thế hệ cùng lứa với nhà thơ. Và cũng không riêng gì một thế hệ. Ai là người Việt Nam còn chút lòng yêu nước, còn biết nghĩ, mà chẳng cảm nhận xót xa nỗi hờn mất nước? ai đó đã từng đọc qua lịch sử dân tộc, có ít nhiều ý thức về nền “văn hiến” đã lâu “của vương quốc, mà chẳng ngán ngẩm với thứ văn minh hào nhoáng pha tạp thời thực dân? Người Việt Nam vẫn chưa mất gốc nào mà chẳng ủ ấp mong muốn được “thênh thang (…) vùng vẫy”, được “ngự trị” trên “nước non hùng vĩ” của tôi, tương tự như chú hổ vườn thú kia vẫn không nguôi “giấc mộng vàng to lớn” của nó.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 3

Với nhân vật con hổ trong vườn thú được mô tả như một tính cách dữ dội, lớn lao, đầy dằn vặt và khát vọng, Nhớ rừng ít nhiều đã hòa vào cái mạch đã từng đem lại cho thi ca biết bao nhiêu danh tác. Lẽ đương nhiên, không ai dám đặt con hổ của bài thơ bên cạnh những tầm cỡ như Prômêtê bị xiềng hay Hamlet hay Người tù xứ Capcadơ. Nhớ rừng mới chỉ là tiếng nói đớn đau của một kẻ đã mất hết niềm tin được tự do, mất hết ước mơ thành công. Con hổ ở đây đã không thể làm được gì hơn là “nằm dài” trong cũi sắt, để “trông ngày tháng dần qua”, và nói về cái thuở oanh liệt vẫy vùng như những tháng ngày không khi nào quay về. Cũng không tồn tại trong nó cái khát khao tương truyền đã được người anh hùng Nguyễn Hữu cầu diễn tả trong những vần thơ lồng lộng ngợp say:

Bay thẳng cánh, muôn trùng Tiêu, Hán

Phá vòng vây, bạn với kim ô.

Có lẽ sẽ không là khiên cưỡng: nếu nói rằng Nhớ rừng với hình tượng con hổ nằm dài ấy, đã tạo thành tư thế của những con người đã thôi nghĩ đến hành động, những con người mà nhiệt tình làm cách mạng, mà hoài bão muốn góp phần mình vào một sự đổi thay đã không hề.

Thế nhưng, con hổ, hình tượng trung tâm của bài thơ, dù có chịu mất tự do, nhưng cũng không chịu mất đi niềm kiêu hãnh. Trong khổ đau, trong cảnh “tù hãm”, trong nỗi “nhục nhằn”, nó vẫn biết tự phân biệt mình với những kẻ đã đi hoàn toàn tầm thường đồng hoá đến cả tinh thần, ở đây, vấn đề không phải là đánh giá “tác phong quần chúng” của con hổ, phê bình nó “không một chút ưu tiên gì đối với những con vật như con gấu, con báo cùng số phận như nó và nằm sát ngay cạnh chuồng nó” như ai đó đã bàn. Ở đây, cũng như chim ở trong lồng, ở cả Prômêtê bị xiềng và Hamlet nữa, sự đối lập giữa hai hạng người, hai cách sống là cách thức nghệ thuật vẫn thường dùng để làm nổi trội lên cái kích thước cao quý và tô đậm thêm cảm hứng đầy tính thảm kịch của một tâm hồn bị khổ đau chứ nhất quyết không chịu hạ mình trong xấu số.

Thế Lữ, ít nhất là một lần trong một đời thơ, đã cố gắng xây dựng cho mình một hình tượng thơ như thế. Con hổ ở Nhớ rừng biết mình chiến bại nhưng vẫn vẫn chưa chịu làm tôi tớ cho sự “tầm thường, giả dối” của cảnh ngục tù. Nó bất lực, nhưng không hoàn toàn khuất phục và thoả hiệp. Nó vẫn “ghét những cảnh không đời nào thay đổi”, tức là còn ước ao những sự đổi thay. Bị giam thân trong lồng sắt chật, nó vẫn tha thiết vươn tới những chân trời rộng rãi của trần gian với “giấc mộng càng to lớn”, và của thời gian với “niềm uất hận ngàn thâu”. Bài thơ, cho tới cùng, vẫn thể hiện một tinh thần, chối từ thực tại, dẫu mới chỉ là sự chối từ trong mộng tưởng mà thôi.

Sự xung đột, chống đối quyết liệt, thường xuyên, không thể dung hòa giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại vật với nội tâm, giữa thấp hèn với cao thượng đúng là cơ sở để kết cấu nên toàn bộ bài thơ. Có cảm giác như nghe được từ Nhớ rừng một bản xô nát bốn chương với sự luân chuyển, đan xen của hai nhạc đề tương phản, Trong số đó, chủ đề chính, chủ đề “nhớ rừng” bỗng đột ngột chuyển vút lên sau những nốt nhạc đã ngày càng chậm rì rì, buồn nản ở chương đầu, và cứ vang to mãi, dào dạt mãi, dâng mãi đến cao trào với toàn bộ niềm phấn hứng của tâm linh để rồi chợt tắt lặng đi nặng nề, uất nghẹn. Và sau cuối trong sự quật khởi chủ đề chính lại quay quay về không hề hùng tráng được như trên, những thiết tha, những nuối tiếc. Bài thơ kết thúc trong tiếng gọi tha thiết với rừng già của một kẻ biết mình đã sắp phải chấm hết cuộc vượt tù trong tâm tưởng. Như thế bằng việc luôn luôn chuyển đổi tình cảm và giọng điệu thơ sang phía đối lập với nó, nhà thơ đã tìm đúng cái cách thức hữu hiệu để diễn tả hết những cung bậc cảm xúc của một tâm trạng cô đơn và đầy day dứt.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 4

“Nhớ rừng” là bài thơ kiệt tác của Thế Lữ, nhà thơ tiên phong của trào lưu “Thơ mới”. Với nhạc điệu du dương, với cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, đặc biệt với hình tượng con hổ, bài thơ “Nhớ rừng” đã chinh phục mỗi chúng ta, đã chiếm lĩnh nơi sâu kín nhất cõi tâm hồn bao người trong hơn nửa thế kỉ qua.

Con hổ được thi sĩ nói về với bao cảm thông và ngưỡng mộ. Nó đang nằm trong cũi sắt vườn Bách thú. Chúa sơn lâm trong cảnh tù hãm cực kì cay đắng uất hận “gậm một khối căm hờn”, muốn cắn nát, muốn nhai vụn mọi uất ức căm hờn đã tích tụ, đã chứa chất thành “một khối” trong lòng xưa nay nay. Không căm hờn sao được khi phải “nằm dài trông ngày tháng dần qua” trong cũi sắt? Không uất ức, cay đắng sao được khi chúa sơn lâm “oai linh rừng thẳm” đang bị lũ người ”giương mắt bé giễu”, đang trở thành “thứ đồ chơi”, với cặp báo “vô tư lự’ trong vườn Bách thảo? Thế Lữ đã thể hiện tâm trạng cay đắng, căm hờn của con hổ mất tự do đầy ám ảnh:

“Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua (…)

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm…”

Qua đó, ta càng thấy rõ: “Anh hùng thất thế sa cơ cũng hèn” (Truyện Kiều)’, ta càng thấm thìa: “Trên đời nghìn vạn điều cay đắng – cay đắng chi bằng mất tự do” (Nhật kí trong tù).

Năm tháng dần trôi qua, chúa sơn lâm có khi nào nguôi được nỗi nhớ rừng. Nhớ “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa”, nhớ vương quốc “miền đất thiêng” mà “ta” ngự trị:

“Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”…

Nhớ tư thế cao sang, oai hùng của “ta”. một chiếc bước chân. Một tấm thân lượn sóng. một chiếc vờn bóng… toàn bộ đều “dõng dạc, đường hoàng”. Một chữ “ta” vang lên đầy kiêu hãnh tự hào của chúa sơn lâm:

“Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng lặng lẽ, lá gai, cỏ sắc”.

Quyền uy của “ta” là tuyệt đối. Mọi vật đều phải khiếp sợ, phải “im hơi” khi “mắt thần” của ta “đã quắc’.”Ta biết” giữa chốn thảo hoa, “ta chúa tể cả muôn loài”:

“Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi”.

Nỗi nhớ rừng thiêng, nhớ quyền uy của chúa sơn lâm đúng là nhớ những năm tháng không thể nào quên. Nỗi nhớ ấy đúng là khát vọng sống, khát vọng tự do cháy bỏng.

Hổ nhớ rừng là nhớ đến những kỉ niệm chói lọi một thời vàng son, một thời oanh liệt. Cảnh vật tráng lệ. Nhạc của thơ cũng là nhạc của rừng:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,……..

– thương ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

những luyến láy, điệp ngữ: “đâu những đêm vàng…”, “đâu những ngày mưa…”, “đâu những bình minh…”, “đâu những chiều…”, “nay còn đâu” xuất hiện nối tiếp trong năm câu hỏi tu từ tạo thành nhạc điệu du dương, triền miên, da diết, thể hiện sâu sắc tình thương nỗi nhớ của hùm thiêng sa cơ, nhớ rừng, tiếc nuối một thời oanh liệt nay trở thành hoài niệm, quá vãng. Chúa sơn lâm nhớ đêm, nhớ ngày, nhớ bình minh, nhớ chiều tà, nhớ suối, nhớ trăng. Nhớ cảnh giang san trong màn mưa rừng. Nhớ “cây xanh nắng gội”. Nhớ chim hót tưng bừng lúc bình minh. Nhớ mặt trời gay gắt trong khoảnh khắc hoàng hôn…Nỗi nhớ tiếc ấy là nỗi đau buồn bị tước đoạt mất tự do, cũng là nỗi khát khao tự do. Thế Lữ đã sáng tạo thành những vần 1 thơ giàu hình tượng và nhạc điệu, dào dạt cảm xúc để thể hiện nỗi nhớ rừng của hùm thiêng sa cơ… Một tiếng than như xiết lấy lòng người, khêu gợi và lay tỉnh:

“thương ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

Bị sa cơ, bị tù hãm trong cũi sắt. Phải xa rừng nên nhớ rừng. Đau đớn và uất hận biết đến khi nào hoàn toàn có thể nguôi? Như một tiếng thở dài ngao ngán:

“Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu”.

Hổ “nhớ cánh sơn lâm, bóng cả, cây già” rồi “uất hận” thù ghét những cảnh “không đời nào thay đổi”, tẻ nhạt, vô vị, vô nghĩa “tầm thường giả dối”, nhỏ xíu:

“Hoa chăm, cỏ xén, cây trồng;

Dài nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém”.

Uất hận cảnh tù hãm, chán ghét những cảnh vật tầm thường nhỏ xíu do “lũ người kia ngạo mạn” bày ra, hổ lại nhớ day dứt, nhớ khôn nguôi “cảnh nước non hùng vĩ’. Nhớ rừng là nhớ vương quốc tự do ngày nào:

“Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa”.

Trước thực tại đau đớn, hổ chỉ còn biết thả hồn mình theo “giấc mộng ngàn”. Chúa sơn lâm cất tiếng gọi rừng thiêng với bao nhớ thương bồi hồi, da diết:

“Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”

“Nhớ rừng” là một trong mười bài thơ hay nhất của “Thơ mới” (1932-1941). Thể thơ tự do, lời thơ đẹp, hình tượng kì vĩ, tráng lệ. Nhạc điệu du dương, cảm xúc “nhớ rừng” dào dạt. Hình tượng con hổ sa cơ, đau đớn uất hận, da diết nhớ rừng được khắc họa sâu sắc, đầy ám ảnh.

Trong hoàn cảnh bài thơ ra mắt (1934), tâm trạng tủi nhục, đau đớn, uất hận… của con hổ nhớ rừng đồng điệu với thảm kịch của nhân dân ta đang rên xiết trong xích xiềng nô lệ. Nhớ rừng là khao khát sống, khao khát tự do. Bài thơ mang hàm nghĩa như một lời nhắn gửi kín đáo, tha thiết về tình yêu giang sơn vương quốc. Tư tưởng lớn nhất của bài thơ là cái giá của tự do. Hình tượng con hổ nhớ rừng là sự thể hiện tuyệt vời tư tưởng vĩ đại ấy.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 5

Nhà thơ Thế Lữ, được biết đến là một nhà thơ tiêu biểu nhất trong trào lưu Thơ mới buổi đầu. Thơ của Thế Lữ được nhận xét là một hồn thơ dồi dào và đầy trong nó sự lãng mạn. Đến với bài thơ “Nhớ rừng” của ông, bạn đọc thấu hiểu được một tình yêu nước sâu sắc, qua hình tượng “con hổ”, tác giả đã mượn nó để nói về sự chán ghét thực tại tầm thường, và gửi gắm Trong số đó tình yêu dân tộc thầm kín. hoàn toàn có thể nói, hình ảnh con hổ trong bài thơ là một sáng tạo đặc biệt, mà qua nó, tác giả đã gửi gắm được những tâm sự thầm kín, mang đầy tính nhân văn.

Mở đầu bài thơ, hình ảnh một con hổ hiện ta với sự kìm kẹp, tù hãm, chính vì nó vốn xuất phát điểm là chúa tể muôn loài, mà giờ đây lại đang bị giam hãm trong một khối sắt lạnh lẽo, mà trong con hổ đang dâng tràn một sự căm hờn chẳng nguôi ngoai:

“Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua”

“Cũi sắt” được nhắc đến, thể hiện sự giam giữ tự do, một không gian giam hãm nhỏ xíu, bức bí, khiến con hổ “căm hờn”. Những ngày tháng trôi qua trong giam hãm, chúa sơn lâm mang trong mình sự uy nghiêm ngày nào giờ lại phải tồn tại trong một không gian nhỏ hẹp, “sa cơ” lỡ vận. Con hổ mang trong mình thực chất của chúa sơn lâm, vốn quen vùng vẫy ở một không gian rừng thiêng rộng lớn, cho nên khi phải bị cảnh giam giữ, nó sống mà như chốn địa ngục, cảm giác “nhục nhằn” dâng cao, cảm thấy mình tầm thường khi bị đem ra làm trò chơi, làm thú mua vui cho những kẻ “Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”.

Con hổ khi phải sống trong sự giam giữ tưởng như không lối thoát như vậy, nó vẫn luôn hướng về quá khứ oai hùng, đầy uy nghiêm. Đại từ nhân xưng “ta” được tác giả sử dụng ở lối xưng của con hổ, càng thể hiện rõ bản lĩnh, sự uy nghiêm, oai hùng của chúa sơn lâm một thời. Con hổ luôn nhớ về thời oanh liệt, vàng son của tôi, đó là khi “tung hoành hống hách”, là khi những cảnh quen thuộc là “bóng cả, cây già”. Sự uy nghiêm ngày ấy thể hiện rõ qua những tiếng gầm thét núi, những tiếng gào dữ tợn vang xa đại ngàn. Con hổ nhớ về uy thế lẫm liệt của tôi, chẳng xa lạ gì với cái tên mà người ta vẫn gọi về nó: chúa sơn lâm. Sự suy nghĩ ngày ấy còn toát lên cả ở những bước đi lẫm liệt, đường hoàng, toàn bộ mọi con vật đều phải nhún nhường, khiếp sợ. Hình ảnh quá khứ của con hổ hiện lên với bao nỗi nhớ chất ông xã, vừa là thương nhớ, vừa là hoài niệm, về một thời oanh liệt, vẫy vùng.

Sự nuối tiếc về quá khứ vàng son luôn thường trực trong nỗi nhớ của con hổ, nhớ cả về núi rừng đại ngàn, nhớ cả về những đêm trăng, con hổ “say mồi đứng uống ánh trăng tan”. Một khung cảnh lãng mạn hiện lên: chúa sơn lâm sau một ngày no say những con mồi, đang cúi xuống uống dòng nước lấp lánh ánh trăng. Và cả những ngày tháng rừng mưa rả rích, cây cối như bừng tỉnh sau cơn mưa, con hổ-với ca tụng là “chúa tể muôn loài”, cũng có thể có những khoảng lặng, ngắm nhìn ‘giang sơn đổi mới”. Và cả những khung cảnh lãng mạn, tiếng chim hót líu lo đón tia nắng, hình ảnh con hổ đôi mắt lim dim lặng im cảm nhận những hơi thở riêng của thiên nhiên, đất trời. Và, nỗi nhớ về cả những buổi hoàng hôn, mặt trời dần tắt, một khoảng không gian chuyển giao ngày và đêm, để con hổ tiếp tục một cuộc hành trình săn mồi đầy bí hiểm và say sưa. toàn bộ gói gọn trong nỗi nhớ da diết của con hổ với rừng thiêng, với cùng 1 nơi được gọi là nhà của chúa sơn lâm. Nhưng thương ôi, những khung cảnh trong nỗi nhớ đó, giờ chỉ còn được gọi là “thời oanh liệt”, vì nó đã qua mất rồi, vì hiện thực quá đối lập với những gì của quá khứ gọi tên. Giờ đây, con hổ phải sống trong một không gian đầy sắp xếp tầm thường, giả dối:

“Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang,tầm thường, giả dối…”

Sự chán ghét thực tại của con hổ được thể hiện rõ ràng, chân thực. Dưới con mắt của chúa sơn lâm, cảnh suối, nước, hoa, cây, mô gò được làm để giống với cảnh rừng thiêng đều mang sự giả dối, vì nó chỉ là sự sao chép sáo rỗng, đơn điệu, nhàm chán. Con hổ vẫn luôn đau đáu và nhớ về giai đoạn oai nghiêm của tôi, vẫn là cảnh rừng thiêng “của ta”, như một sự khẳng định, như một sự sở hữu, thể hiện bản lĩnh và vị thế của một chúa sơn lâm, tuy đã bị sa cơ lỡ vận.

Mượn hình ảnh con hổ, nhà thơ Thế Lữ muốn gửi gắm nỗi chán ghét thực tại tầm thường, đơn điệu, đồng thời thể hiện niềm khao khát tự do mãnh liệt, qua đó, thể hiện một tấm lòng yêu nước thầm kín mà không kém phần sâu sắc.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 5 Bài văn Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ) (Ngữ văn 8) hay nhất, Top 5 Bài văn Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ) (Ngữ văn 8) hay nhất, Top 5 Bài văn Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ) (Ngữ văn 8) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *