Top 20 bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc toàn cầu

23-01-2021 20 7212 2 2

Báo lỗi

Có ai đó đã nói rằng: Khi ngôn ngữ trở thành bất lực thì âm nhạc lên tiếng. Quả đúng như vậy. Âm nhạc có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người và cũng chỉ có con người mới có khả năng cảm thụ âm nhạc. Âm nhạc tạo ra những cung bậc tình cảm rất tinh ý, thuần hóa tâm thức và đưa con người trở về với nhân cách vốn có của tôi. Có những bản nhạc làm cho ta cảm thấy hạnh phúc; có những bản nhạc tạo ra sự sung mãn về tâm hồn, nâng cao ý chí nghị lực trong cuộc sống; có những bản nhạc nếu nghe thường xuyên có khả năng chữa bệnh, giảm thiểu căng thẳng và kích thích não bộ phát triển,… Bạn đã từng biết đến và được nghe những bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc của toàn cầu vẫn chưa? Hãy cùng toplist nghe và cảm nhận nhé.

1234567891011121314151617181920

1


Bình An

“Symphony 5” – Beethoven

“Symphony 5” (Bản giao hưởng số 5) là bản giao hưởng nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc toàn cầu. Tác giả của bản giao hưởng này đó là thiên tài âm nhạc người Đức: Ludwig van Beethoven (1770-1827). Ông là hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ âm nhạc cổ trang sang giai đoạn âm nhạc lãng mạn. Bản giao hưởng số 5 hay còn gọi là bản giao hưởng “định mệnh” được ông sáng tác vào năm 1808 khi ông đang ở độ tuổi 37 đầy sung sức về tài năng nhưng đáng tiếc con người tài hoa ấy lại bạc mệnh, lúc đó ông đang bị điếc. Dù thế, bản giao hưởng số 5 không phải vì thế mà thê lương, trái lại nó mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, trận đánh của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa.

Bản giao hưởng gồm 4 chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo và chương 4: Allegro) Trong số đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất.

Toàn bộ bản giao hưởng đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, vô vọng, thắng lợi và ca tụng tình yêu cuộc sống.

Ludwig van Beethoven (1770-1827)
Ludwig van Beethoven (1770-1827)
“Symphony 5” – Beethoven


2


Bình An

O Fortuna – Carl Orff

O Fortuna (nữ thần may mắn) là một bài thơ Latin thời Trung cổ từ thế kỉ 13 rất hay nằm trong tập thơ của Carmina Buran. Nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức là Carl Orff (1895 – 1982) đã chọn bài thơ này trong số 24 bài thơ để phổ nhạc trong những năm 1935 – 1936. Phần nhạc của bài thơ O Fortuna trở thành hết sức nổi tiếng nhờ kĩ thuật hòa âm phối khí đầy kịch tính Carl Orff. Khi hoàn thành, tác phẩm đã được rất nhiều dàn hợp xướng biểu diễn.

O Fortuna đứng đầu trong danh sách những bản nhạc cổ trang được chơi nhiều nhất trong thế kỉ qua. Nó cũng được sử dụng làm nhạc phim cho rất nhiều những bộ phim nổi tiếng như: Lord of The Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn); Star Wars (Chiến tranh giữa những vì sao); 300;… và rất nhiều chương trình truyền hình trên toàn cầu.

Carl Orff (1895 – 1982)
Carl Orff (1895 – 1982)
O Fortuna – Carl Orff

3


Bình An

Halleluiah Chorus – George Frideric Handel

Trường ca Hallelujah Chorus là tác phẩm của nhà soạn nhạc người Anh gốc Đức: George Frideric Handel (1685 – 1759). Hallelujah là thán từ dùng để ca tụng thiên chúa, bày tỏ niềm hân hoan, vui mừng và cảm ơn vì được Chúa ban cho nhiều phước lành. Hallelujah Chorus là bản oratorio tiếng Anh do George Frideric Handel sáng tác năm 1741 và ra mắt công chúng lần trước tiên tại Dublin vào trong ngày 13 tháng tư năm 1742 và tại Luân Đôn vào năm 1943. Lời bài hát dựa trên những đoạn Kinh thánh mà Handel cố gắng để mô tả cuộc sống, cái chết, và sự sống lại của Chúa Giê-su.

Chính vì vậy, càng về sau, tác phẩm càng được sự quan tâm rộng rãi của công chúng, sau cùng trở thành một trong những tác phẩm hợp xướng nổi tiếng nhất và được biểu diễn nhiều nhất trong nền âm nhạc phương Tây. Nếu bạn đi chơi Noel vào mỗi mùa Giáng sinh, những bạn sẽ bắt gặp trường ca Hallelujah Chorus quen thuộc vang lên ở bất kể nhà thờ nào.

George Frideric Handel (1685 – 1759)
George Frideric Handel (1685 – 1759)
Halleluiah Chorus – George Frideric Handel

4


Bình An

“Ride of the Valkyries” – Richard Wagner

“Ride of the Valkyries” là một phần của tác phẩm vĩ đại “The Ring Cycle” do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức Richard Wagner (1813 – 1883) sáng tác. Trong thần thoại Bắc Âu, Valkyries thường được mô tả như những chiến binh xinh đẹp, với làn da trắng muốt, mái tóc vàng và cưỡi ngựa thần có cánh. Khi Valkyries hạ trần, áo giáp của họ tỏa ra thứ ánh sáng kì lạ bao trùm cả một khoảng trời.

Richard Wagner đã mô tả hình ảnh tuyệt đẹp này qua khúc nhạc “Ride of the Valkyries” (Sự xuất hiện của những nàng Valkyrie xinh đẹp). Tác phẩm âm nhạc này thuộc phần thứ 2 trong chùm 4 opera dài dằng dặc mang tên ” Der Ring des Nibelungen” (Chiếc nhẫn của người Nibelung) và nó trở thành một trong những giai điệu cổ trang quen thuộc nhất qua màn ảnh.

Richard Wagner (1813 – 1883)
Richard Wagner (1813 – 1883)
“Ride of the Valkyries” – Richard Wagner

5


Bình An

“Toccata in d minor” – Johann S. Bach

Người đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức nhờ kĩ năng điêu luyện trong kết cấu đối âm, hòa âm và tiết tấu cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái và bố cục âm nhạc quốc tế đó là nhà soạn nhạc thiên tài Johann Sebastian Bach (1600-1750).

“Toccata in d minor” đó là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất mà Johann S. Bach đã từng biên soạn. Bản nhạc này có nhiều tiết tấu mạnh mẽ, chứa đầy chất bi ai và nó nhanh gọn gắn liền với nhiều phân đoạn thảm kịch trong những bộ phim.

Johann Sebastian Bach (1600-1750)
Johann Sebastian Bach (1600-1750)
“Toccata in d minor” – Johann S. Bach

6


Bình An

“Eine Kleine Nachtmusik” – Wolfgang A. Mozart

“Eine Kleine Nachtmusik” là một trong những Serenade (khúc nhạc chiều) nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc người Áo Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791).

Đây là bản Serenade số 13 cho đàn dây giọng Son trưởng k. 525 cực kì quen thuộc với cả những người không nghe nhạc cổ trang nói chung vì nó được dùng quá nhiều trong những chương trình truyền hình. Wolfgang A. Mozart đã tạo ra bản nhạc huyền thoại dài 15 phút hoàn thành chỉ trong một tuần tại Vienna năm 1787. Nó được xuất bản vào năm 1827.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)
Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)
“Eine Kleine Nachtmusik” – Wolfgang A. Mozart

7


Bình An

“Ode to Joy” – Beethoven

Cùng với bản giao hưởng số 5, thì bản nhạc này của Beethoven đứng trong bảng xếp loại những bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử nền âm nhạc toàn cầu. “Ode to Joy” là chương cuối được biết đến nhiều nhất và được công chúng yêu thích nhất trong Bản giao hưởng số 9 của Beethoven sáng tác năm 1824.

Khi ấy, Beethoven đã bị điếc hoàn toàn. Điều đó càng làm cho nhân loại nghiêng mình thán phục trước một thiên tài âm nhạc vĩ đại. “Ode to Joy” được đánh giá là đỉnh cao của văn minh nhân loại và chọn làm thông điệp hòa bình và thân ái mà loài người gửi vào vũ trụ.

“Ode to Joy” – Beethoven
“Ode to Joy” – Beethoven

8


Bình An

“Spring” – Antoni Vivaldi

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741) là nhà soạn nhạc người Ý. Ông được đánh giá là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất giai đoạn Phục hưng và được biết đến nhiều nhất với những Concerto viết cho nhiều nhạc cụ. Ông nổi tiếng với bộ Concerto cho vĩ cầm mang tên “Bốn mùa”. Antoni Vivaldi đã viết 4 bản nhạc trong năm 1723, mỗi bản nhạc tượng trưng cho một mùa trong một năm.

Trong số đó bản “Spring” (mùa xuân) có những giai điệu đẹp và tươi sáng nhất. Giai điệu của bản nhạc cũng như khẽ khàng run rẩy tựa mầm non đâm chồi nảy lộc, cựa mình thoát khỏi cái vỏ xù xì thô ráp của mùa đông. Chính vì vậy, nó được đưa vào nhiều tác phẩm và phim ảnh và nó trở thành quen thuộc đến mức chỉ việc được nghe những nốt trước tiên, người ta đã thấy không khí mùa xuân tràn ngập.

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)
Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)
“Spring” – Antoni Vivaldi

9


Bình An

“Canon in D Major” – Johann Pachelbel

“Canon in D Major” (Luân khúc Rê trưởng) là một tác phẩm âm nhạc được viết khoảng năm 1680 bởi Johann Pachelbel (1653 – 1706) – nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức.

Với cách soạn nhạc đầy kỹ thuật và tinh ý Canon luôn mang đến cho người nghe cảm giác thư thái và nhẹ nhàng như một dòng suối mát chảy róc rách nát giữa trưa hè nóng nực, hay thanh thản tự do mỗi buổi sớm mai chạy trên thảo nguyên xanh rộng lớn. Đây là bản nhạc cổ trang tuyệt vời dễ nghe, giành riêng cho mọi lứa tuổi với nhiều cách thể hiện không giống nhau.

“Canon in D Major” – Johann Pachelbel
“Canon in D Major” – Johann Pachelbel

10


Bình An

“William Tell Overture” – Gioachino Rossini

“William Tell Overture” (khúc khởi nhạc) mở đầu cho tác phẩm “William Tell”- vở opera sau cùng dài 12 phút của nhà soạn nhạc người Ý: Gioachino Rossini (1792 – 1868). Đây là bức tranh tả cảnh vùng núi Alpes tại Thụy Sĩ, được chia thành 4 phân đoạn. Với giai điệu đẹp, hoành tráng và biểu cảm, khúc khởi nhạc này được giới chuyên môn đánh giá cao, nó như một bản giao hưởng 4 chương.

Chính vì vậy, khúc khởi nhạc “William Tell Overture” được phổ biến cực kì rộng rãi và có tác động lớn trong văn hóa đại chúng. Nó được sử dụng trong bộ phim phim hoạt hình “Looney Tunes” của hãng Warner Brother, phim phim hoạt hình Mickey (The Band Concert) của hãng Walt Disney,…

Gioachino Rossini (1792 - 1868)
Gioachino Rossini (1792 – 1868)
“William Tell Overture” – Gioachino Rossini

11


Phạm Lộc

The Blue Danube – Johann Strauss II

Tác phẩm The Blue Danube trở thành nhạc nền cho một số bộ phim phim hoạt hình của hãng Warner Bros như A Corny Concerto với chú thỏ láu thông minh, tinh quái và Đa-nuýp xanh còn xuất hiện trong phim 2001: A Space Odyssey – bộ phim điện ảnh khoa học viễn tưởng đạt doanh thu khổng lồ và được nhận tới 7 đề cử giải Oscar. Những thành công mà bộ phim gặt hái được có một phần không nhỏ nhờ vào những hiệu ứng âm thanh với sự phối hợp tinh ý giữa âm nhạc và cảnh quay. Sự thành công này đã khiến Đa-nuýp xanh sau đó xuất hiện liên tục trong những bộ phim và trở thành một trong những tác phẩm giao hưởng được sử dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực điện ảnh.

Bản nhạc mang đậm phong thái Viên này còn được coi là bản quốc ca không chính thức của Áo. Điệu nhạc van du dương thường được phát trên toàn bộ những kênh truyền hình vương quốc và đài phát thanh của Áo vào những thời điểm quan trọng như đón chào năm mới, Giáng sinh. Tại Viên, sáng đầu xuân năm mới nào cũng đều có một buổi hoà nhạc giao hưởng và một quy luật bất thành văn – bản Đa-nuýp xanh phải được chơi trong hôm đó.

The Blue Danube – Johann Strauss II
The Blue Danube - Johann Strauss II
The Blue Danube – Johann Strauss II

12


Phạm Lộc

Spring from The Four Seasons – Vivaldi

Trong Bốn mùa của Vivaldi, mùa xuân có những giai điệu đẹp và tươi sáng nhất, cũng đều có những lúc giai điệu khẽ khàng run rẩy tựa mầm non đâm chồi nảy lộc, cựa mình thoát khỏi cái vỏ xù xì thô ráp của mùa đông.

Bản Mùa xuân từng được VTV đưa vào làm nhạc nền cho phần giới thiệu chương trình từ nhiều năm trước. Bản nhạc trở thành quen thuộc đến mức, chỉ việc được nghe những nốt trước tiên, người ta đã thấy không khí mùa xuân tràn ngập.

Spring from The Four Seasons – Vivaldi

13


Phạm Lộc

Here Comes the Bride – Richard Wagner

Hành khúc đám cưới là một tác phẩm viết cho vở nhạc kịch Lohengrin của nhà soạn nhạc người Đức Richard Wagner, sáng tác năm 1850 thường được gọi là “Wedding March” hoặc “Here Comes the Bride”. Ngày nay, “Hành khúc đám cưới” thường được chơi ở ngay đầu một lễ cưới.

Điều này không giống như trong nguyên bản vở opera của Wagner. Trong số đó, bản hợp xướng do những người phụ nữ hát sau khi những nghi lễ đám cưới đã xong và họ cùng nhau đưa cô dâu tới phòng tân hôn.

Here Comes the Bride – Richard Wagner

14


Phạm Lộc

Danses Des pettis Cycnes – Tschaikowsky

rất có thể nói tác phẩm này quy tụ đủ những yếu tố để trở thành một tác phẩm kinh điển của thời đại. Tác phẩm nhạc bắt nguồn từ một mẩu truyện cổ tích kể về nàng công chúa Odette bị một tên phù thủy trở thành con thiên nga trắng. Ban ngày nàng là thiên nga, đêm tối nàng quay về là người. Lời nguyền của tên phù thủy chỉ rất có thể được giải bằng tình yêu chân thành của một chàng trai giành cho Odette.

mẩu truyện cổ tích nổi tiếng đó hầu như đứa trẻ nào cũng từng được nghe kể. Nhạc phẩm của nhà soạn nhạc lừng danh bắt đầu từ một mẩu truyện cổ tích nổi tiếng đã sinh ra một vở ballet kiệt tác – một trong những vở ballet vĩ đại nhất mọi thời đại đã khiến bộ ba truyện – nhạc – ballet đó gắn bó với nhau không rời, cái này tôn lên cái kia và cả ba cùng mặc kệ sự thử thách của thời gian để cùng nhau tỏa sáng.

Danses Des pettis Cycnes – Tschaikowsky

15


Phạm Lộc

Turkish March – Mozart

phong thái Thổ Nhĩ Kỳ có lẽ là phong thái phương Đông trước tiên tác động mạnh mẽ đến âm nhạc phương Tây đến thế. phong thái Thổ Nhĩ Kỳ mà những nhà soạn nhạc thời cổ trang sử dụng giống với phong thái của những ban quân nhạc đế chế Ottoman, đặc biệt là những ban nhạc cảnh vệ của vua Thổ.

Một sự thúc đẩy quan trọng dẫn tới trào lưu phong thái âm nhạc Thổ thống trị những sáng tác nhạc giao hưởng cổ trang tới từ sự kiện xảy ra vào năm 1699 khi hai đế chế Áo và Ottoman (Thổ) đàm phán Hiệp ước Karlowitz. Để ăn mừng việc ký kết thành công hiệp ước, đoàn ngoại giao Thổ đã mang theo một ban nhạc cảnh vệ tới Viên để trình diễn. Ngay lập tức nhiều nhà soạn nhạc cổ trang châu Âu ở thế kỉ 18 khi đó đã bị hấp dẫn bởi phong thái nhạc Thổ Nhĩ Kỳ.

Turkish March – Mozart

16


Phạm Lộc

Fur Elise – Beethoven

Thư gửi Elise là một trong những bản nhạc giành riêng cho piano nổi tiếng nhất của Ludwig van Beethoven. Bản nhạc thường được xếp vào loại khúc nhạc ngắn bagaten, nhưng đôi khi nó cũng được xem là một albumblatt (một title chung cho những tác phẩm nhạc cổ trang, thường là độc tấu piano).

Như cảm xúc muôn đời của tình yêu, Thư gửi Elise dạt dào tình cảm. Bản nhạc không phức tạp về mặt kỹ thuật, thậm chí rất có thể chơi bằng một tay trên phím dương cầm, nhưng để đạt được tình cảm dạt dào, sâu lắng, tinh ý và trong sáng mà Beethoven thể hiện trong bản nhạc là điều không đơn giản. Beethoven đã sáng tác Thư gửi Elise khi ông đã 40 tuổi và đã được khẳng định là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất của mọi thời đại. trong tầm thời gian này, Beethoven đã bị điếc. Thư gửi Elise đã được sáng tác trong sự “yên tĩnh” của nhạc sĩ. “Tình yêu có chiều sâu hơn khi người ta lớn tuổi”, Thư gửi Elise chứa đựng sự chiêm nghiệm của người đàn ông đã trải qua bao thăng trầm, cay đắng nhưng vẫn còn đó đấy nguyên vẹn một tình yêu mãnh liệt và trong sáng trước một cô nàng.

Fur Elise – Beethoven

17


Phạm Lộc

Rondo a La Turka (từ Sonata cho Piano trong A Major; K. 331)

Tác phẩm Mozart cực kỳ nổi tiếng này trích 1 đoạn trong bản Piano Sonata A Major. Đây là bản Sonata thứ mười một mà Mozart viết cho nhạc cụ và thường gồm có 3 chương theo kiểu nhanh-chậm-nhanh. Không giống như nhiều biệt danh, Mozart được cho là đã thực sự chọn chính mình Mạnh mẽ, Hạnh Phúc cho cao trào cuối, giống như âm thanh của ban nhạc Marching Thổ Nhĩ Kỳ.

Tác phẩm có chủ đề mở đầu hấp dẫn, khoảnh khắc nhẹ nhàng hơn. Hình thức Rondo được cho phép Mozart thể hiện sức mạnh ý tưởng phát minh vô hạn của tôi vì sau mỗi lần thematic restatement theo chủ đề, ông tạo ra một giai điệu mới khác. Phần Coda là phần sau cùng của tác phẩm nhưng nó không mất đi tinh thần và năng lượng của nó khi kết thúc một bản sonata một cách tuyệt vời và thú vị.

Rondo a La Turka gồm có 3 chương, cụ thể:

– Chương 1: Andante grazioso – Một chủ để với sáu biến tấu. Đây là chương được mở đầu một cách chậm rãi rồi kết thúc với những tiết tấu nhanh, có thời lượng hơn 14 phút.

– Chương 2: Menuetto-minuet và trio. Đây là chương vẫn mở đầu chậm rãi, nhưng có phần vô tư hơn, thời lượng khoảng 5 đến 6 phút.

– Chương 3: Rondo Alla Turca-Allegretto. Chương này chỉ kéo có hơn 3 phút, nhưng nó khiến người ta không thể nào quên với những tiết tấu vui tươi mang phong thái Thổ Nhĩ Kỳ.

Rondo a La Turka (từ Sonata cho Piano trong A Major; K. 331)

18


Phạm Lộc

Piano Sonata số 16, trong C K.545

Bản Sonata này có lẽ là bản Sonata nổi tiếng nhất trong toàn bộ những bản Sonata giành riêng cho piano. Nó thường, và sai, khi nhiều người cho rằng tác phẩm này thích hợp cho nghệ sĩ piano mới bắt đầu. Điều này là để bỏ qua hình thức cấu trúc đáng để ý của tác phẩm này khác với những bản Sonata cổ trang. Hãy đánh giá thực tiễn rằng sự tái cấu trúc không quay về trong khóa bổ âm mà trong sự chi phối của F chính. Điều đáng để ý là Mozart cũng hoàn thành Bản giao hưởng số 39 của ở thời điểm giống như; một công việc đáng để ý theo đúng nghĩa của nó.

Sự đơn giản rõ ràng của Sonata này như một lời nhắc nhở nhiều tác phẩm của Mozart rất có thể lấp lánh với những giai điệu đáng nhớ nhưng có một chút nữa được xây dựng theo cách mới lạ và kỹ lưỡng. Sonata có ba phần Allegro; Andante và Rondo: Allegretto. Andante ở G Major và tìm thấy Mozart ở giai điệu hay nhất. Với dấu hiệu thời gian là ba / bốn tiếng vang nhỏ của một Minuet chậm đòi hỏi phải kiểm soát hoàn toàn cân bằng giữa hai tay. Đoạn kết Finale đưa chúng ta vào một bản rondo, có lẽ là hình thức âm nhạc yêu thích của Mozart vì nó mang đến cho ông thời cơ gần như vô tận để sáng tác vật liệu âm nhạc mới. Đó là một rondo thực sự đáng nhớ và rất có thể dễ dàng để chơi, hoạt bát nhưng luôn có một cảm giác trang trí tinh ý.

Piano Sonata số 16, trong C K.545

19


Phạm Lộc

Fantasia in D minor K.397

Được cho là do Mozart sáng tác vào năm 1782, tác phẩm piano ngắn này đã chứng tỏ là một trong những tác phẩm phổ biến nhất của nhà soạn nhạc. Đúng như tên thường gọi cho thấy một tác phẩm giả tưởng; có tức là hình thức âm nhạc của nó chứa đầy những khúc quanh và khúc ngoặt; điều thường không thấy trong những tác phẩm cổ trang. Fantasia được sáng tác theo một trong những phím tối hơn của Mozart và arpeggios mở đầu phản ánh sự không chắc chắn, dẫn đến một đoạn Adagio có cảm giác như một aria opera.

Sau đó đoạn bị ngắt đột ngột bởi một đoạn presto làm người nghe cảm nhận như trí tưởng tượng của Mozart có vẻ như bay nhanh trước khi quay về nhịp độ lúc đầu. Nhiều yếu tố theo chủ đề rất có thể tạo ấn tượng rằng tác phẩm có phần sơ sài, được link cẩn trọng và liên quan. Điều này chỉ trở thành rõ ràng khi bạn thực sự nắm vững những giai điệu trong từng bản nhạc. Đáng buồn thay, những nốt sau cùng của Fantasia đã không được Mozart hoàn thành, những tác phẩm bị bỏ lỡ vào thời điểm ông qua đời. Có lẽ Mozart có sáng tác những phần khác trong tâm trí hoặc một kết thúc theo một cách hoàn toàn khác; chúng ta sẽ không khi nào biết

Fantasia in D minor K.397

20


Phạm Lộc

Bản hòa tấu piano số 21 tại C Major K. 467

Bản hòa tấu piano số 21 tại C Major K. 46 cho thấy sự đổi mới và tài năng của Mozart. Tác giả đã khai thác triệt để cuộc đối thoại và phát triển vật liệu âm nhạc giữa nghệ sĩ độc tấu và dàn nhạc, với cùng 1 số phần biểu cảm tuyệt vời cho phần wind. Andante ( phần movement thứ 2), tràn ngập sự đối lập được đặt cẩn trọng làm tăng thêm sự kích tính của đoạn. Nó đầy ma thuật và bí hiểm, khác xa với tình cảm mà nó được link.

Mozart khai thác triệt để cuộc đối thoại và phát triển vật liệu âm nhạc giữa nghệ sĩ độc tấu và dàn nhạc, với cùng 1 số phần biểu cảm tuyệt vời cho phần wind. Andante ( phần movement thứ 2), tràn ngập sự đối lập được đặt cẩn trọng làm tăng thêm sự kích tính của đoạn. Nó đầy ma thuật và bí hiểm, khác xa với tình cảm mà nó được link. Trong phần Finale, Mozart cũng không vô vọng. Cảm giác của sức sống trong những đoạn độc tấu di chuyển nhanh được gạch chân với cùng 1 chút tinh nghịch. Chromaticism được sử dụng để tạo hiệu ứng kịch tính tuyệt vời, nhưng sau cùng, bản concerto quay quay về một số thang âm thắng lợi.

Bản hòa tấu piano số 21 tại C Major K. 467

Từ khóa: Top 20 bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc toàn cầu, Top 20 bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc toàn cầu, Top 20 bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc toàn cầu

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *