Top 13 Phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam

28-01-2021 13 6596 2 1

Báo lỗi

Phụ nữ Việt Nam vẫn luôn được biết đến là những người tài sắc vẹn toàn, giàu đức hi sinh. Lịch sử sẽ luôn ghi nhớ công ơn của họ – những người phụ nữ vĩ đại. giang sơn ta không thiếu những người phụ nữ anh dũng, chịu thương, chịu khó, những người mẹ thầm chôn giấu nỗi đau mất anh xã mất con để tiếp tục lặng lẽ hi sinh cho hòa bình độc lập tụ do của giang sơn, những cô nàng vẫn chưa kịp hưởng tuổi thanh xuân đã quên mình đi giao liên, du kích đúng như câu nói: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nhân ngày 8/3, cùng nhau điểm tên những người phụ nữ đã góp công làm rạng danh giang sơn.

12345678910111213

1


Nguyễn Anh

Hai Bà Trưng

Hai chị em Trưng TrắcTrưng Nhị là tấm gương điển hình nhất về hình mẫu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Ngay từ thuở đầu của lịch sử, Hai Bà Trưng đã vượt qua mọi định kiến hà khắc về phụ nữ của lễ giáo phong kiến để đứng lên cầm vũ khí, kéo quân ra trận, đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập. Ngay sau khi phất cờ khởi nghĩa, Hai Bà đánh vào Luy Lâu, khiến viên Thái thú Tô Định phải “cắt tóc, cạo râu, vứt bỏ ấn tín, trà trộn vào đám loạn quân tháo chạy về nước”. Đúng như lời tuyên thệ của Hai Bà trước khi khởi nghĩa:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng.

Đại Việt sử ký toàn thư coi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử, với tên thường gọi Trưng Nữ vương.Sau khi cuộc khởi nghĩa này bị quân Đông Hán dưới sự chỉ huy của Mã Viện đánh bại, tục truyền rằng vì không muốn chịu khuất phục, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang tuẫn tiết, địa danh Hát Môn – Hát Giang là nơi thánh tích Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa chống quân Đông Hán xâm lược và cũng là nơi Hai Bà hóa thân vào cõi bất diệt. Đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng là Di tích lịch sử vương quốc đặc biệt, ngôi đền Hát Môn cổ kính với nhiều hàng cây cổ thụ, khung cảnh trang nghiêm yên tĩnh quanh năm.

Tranh Hai Bà Trưng khởi nghĩa
Tranh Hai Bà Trưng khởi nghĩa


2


Nguyễn Anh

Triệu Thị Trinh (Bà Triệu)

Nối tiếp tinh thần của Hai Bà Trưng, sau gần 2 thế kỷ, vùng núi Cửu Chân (Thanh Hóa) xuất hiện phụ nữ anh hùng khác là Triệu Thị Trinh.

Triệu Thị Trinh hay Triệu Quốc Trinh, Triệu Ẩu, hay Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) trong một gia đình hào trưởng. Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người

Nhân dân còn truyền tụng những câu nói đầy khí phách của bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người!”

Năm 248, Bà Triệu phất cờ khởi nghĩa ở vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa). Đông đảo nhân dân khắp hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ) nổi dậy hưởng ứng. Bà Triệu đã chỉ huy nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, quân Ngô tan rã. Bọn quan lại thống trị từ Thứ sử Giao Châu trở xuống đến những huyện lệnh đều bị giết hoặc chạy trốn. Cả Giao Châu chấn động.

Nhà Ngô phải cử danh tướng Lục Dận đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng, kiên trì nhưng vì lực lượng quân sự còn yếu nên đã thất bại. Bà Triệu Thị Trinh hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hóa).Trên núi Tùng hiện có mộ Bà Triệu và dưới chân núi Tùng là Đền thờ chính của Bà Triệu, cạnh quốc lộ số 1, thuộc Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa. Hội đền hằng năm vào trong ngày 21 tháng hai âm lịch. Nội 137km.Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là một cuộc khởi nghĩa lớn, có thanh thế vang dội, là đỉnh cao của trào lưu đấu tranh giải phóng dân tộc thế kỷ II, III. cho tới nay, nhân dân toàn quốc còn lưu truyền hình ảnh Bà Triệu và hoạt động của quân khởi nghĩa.

Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh người con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng “giành lại giang san, cởi ách nô lệ” muôn thuở không mờ trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam.

Đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa
Đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa

3


Green Apple

Nguyên phi Ỷ Lan (1044 – 1117)

Nguyên phi Ỷ Lan là phi
tần của Hoàng đế Lý Thánh Tông, mẹ ruột của Hoàng đế Lý Nhân Tông, thụy hiệu là
Linh Nhân Phù Thánh hoàng hậu. Thân phụ của bà là Lê Công Thiết, thân mẫu là Vũ
Thị Tình, bà hạ sinh được Hoàng hoàng thái tử Lý Càn Đức và Minh Nhân vương. Bà đã hai lần đăng đàn nhiếp chính, đưa đất
nước dưới triều Lý phát triển hưng thịnh, những đóng góp cho triều Lý nhất là về
Phật giáo và tài năng trị nước của bà đều được sử gia khen ngợi và tán dương.

Theo sách Đại Việt sử
ký toàn thư: năm Giáp Thìn (1064), vua Lý Thánh Tông đến chùa Thổ Lỗi cầu tự và
mở hội tuyển cung nữ. Song có nguồn lại cho rằng mùa xuân năm 1063, vua Lý
Thánh Tông cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), qua hương Thổ Lỗi nhìn thấy
người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong treo nên đưa người con gái
đó vào cung. Khi vào cung, bà được phong làm Ỷ Lan phu nhân, nơi ở là Du Thiền
những.

Tháng
2 năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, Nguyên phi
được vua trao quyền điều khiển chính sự với sự giúp sức của Lý Đạo Thành – Thái
sư đầu triều đương thời. Ở lần thứ nhất đăng đàn nhiếp chính, Nguyên phi giúp sức
nội trị, cảm hóa lấy được lòng dân, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật Giáo, dân gọi
bà là Quan Âm.

Dù thế,
để hoàn toàn có thể có quyền hành nhiếp chính giang sơn lần thứ hai, bà đã mưu kế dựa vào Lý Thường Kiệt, phế truất và sát hại Thái hậu nhiếp chính tiền nhiệm là Thượng Dương Hoàng thái hậu. Lúc này, bà được tôn làm Hoàng thái hậu nhiếp chính. Việc
làm này đã gây nên nhiều tranh cãi xung quanh bà.

Tượng Nguyên phi Ỷ Lan
Tượng Nguyên phi Ỷ Lan

4


Green Apple

Từ Thục phu nhân

Từ Thục phu nhân tên thật là Nhữ Thị Thục, người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương, nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố TP Hải Phòng.

Bà sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng danh giá, con gái của quan Thượng thư bộ hộ, TS Nhữ Văn Lan dưới thời vua Lê Thánh Tông. Mặc dù xuất thân quý tộc nhưng ngoài 20 tuổi bà mới kết hôn cùng ông Nguyễn Văn Định – một thầy đồ ít tiếng tăm, vốn không phải dòng dõi danh gia, sinh trưởng tại huyện Vĩnh Lại, nay là Vĩnh Bảo, nằm cách huyện Tiên Minh một khúc sông nhỏ. Tương truyền, bà đã tính toán cẩn trọng ngày giờ hợp cẩn để sinh ra Nguyễn Văn Đạt (tên khai sinh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) và bà cũng đúng là người có sức tác động lớn trong giáo dục cũng như hình thành nhân cách của con mình.

Bà là hình mẫu người phụ nữ rất hiếm gặp trong lịch sử Việt Nam: thông minh, quyết đoán, học rộng, giỏi văn chương, kinh sử, lại tinh thông cả dịch lý, tướng số, mang chí lớn của bậc trượng phu. Bà tâm niệm rằng: nếu không lấy được anh xã làm vua thì con bà sinh ra sau này cũng phải làm vua một nước. Sau này, bà được vua Mạc phong tặng cho tước hiệu Từ Thục phu nhân.

Từ Thục phu nhân hình thành lên nhân cách của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Từ Thục phu nhân hình thành lên nhân cách của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

5


Green Apple

Từ Dụ Hoàng thái hậu (1810 – 1902)

Nghi Thiên Chương Hoàng hậu hay Từ Dụ Hoàng thái hậu tên thật
là Phạm Thị Hằng, xuất thân từ dòng họ Phạm Đăng thị, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định,
nay là thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang. Phụ thân bà là Phạm Đăng Hưng –
danh thần của nhà Nguyễn, mẫu thân bà là Phạm phu nhân.

Bà là chính thất Quý phi của Thiệu Trị Hoàng đế, mẹ ruột của
vua Tự Đức. Từ Dụ Hoàng thái hậu nổi tiếng là một người đức hạnh, xuất thân cao
quý, thông kinh sử, có đức hiền, biết yêu dân thương con. Bà hạ sinh được hai công
chúa, một hoàng tử và tại vị ở triều đình Huế trong vòng 55 năm, từ lúc bà trở
thành Hoàng thái hậu dưới thời Tự Đức năm 1847 cho tới khi qua đời vào năm 1902
dưới thời Thành Thái.

Danh hiệu của bà được đặt cho Bệnh viện phụ sản lớn nhất ở
TP. Hồ Chí Minh – Bệnh viện Từ Dũ.

Từ Dụ Hoàng thái hậu
Từ Dụ Hoàng thái hậu

6


Green Apple

Ngọc Hân công chúa (1770 – 1799)

Ngọc Hân công chúa hay Bắc Cung Hoàng hậu tên thật là Lê Ngọc
Hân
, là công chúa tài sắc vẹn toàn nhà Hậu Lê.

Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông,
thân mẫu là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ
Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, TP. Hà Nội.

Năm 1786, Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết hôn cùng người anh
hùng áo vải Nguyễn Huệ, khi đó bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ 33 tuổi.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang
Trung
đã phong cho Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng hậu. Đến năm 1789, sau khi đại
thắng quân Thanh, ông lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng hậu.

Ngọc Hân công chúa hạ sinh được 2 người con: công chúa Nguyễn
Ngọc Bảo và hoàng tử Nguyễn Quang Đức. Khi Quang Trung băng hà (năm 1792), bà
đã viết bài Tế vua Quang Trung và Ai Tư Vãn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng
như niềm tiếc thương vô hạn cho người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Triều đình Tây Sơn cũng lâm vào cảnh suy thoái, khiến cô cùng hai con nhỏ phải
gắng gượng. Đến năm 1799, Ngọc Hân mất, vài năm sau đó hai người con của cô
cũng qua đời.

Ngọc Hân công chúa
Ngọc Hân công chúa

7


Nguyễn Anh

Lý Chiêu Hoàng

Lý Chiêu Hoàng còn gọi là Lý Phế hậu hay Chiêu Thánh hoàng hậu, vị Hoàng đế thứ 9 và sau cuối của triều đại nhà Lý từ năm 1224 đến năm 1225. Trong lịch sử Việt Nam, bà là vị Nữ hoàng trước tiên và duy nhất, đặc biệt hơn là được chính Phụ hoàng Lý Huệ Tông ra chỉ truyền ngôi, dù bên trong là sự sắp đặt đầy cưỡng ép của Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, hiện đang nắm quyền lực trong triều.

Năm 1226, Chiêu Hoàng được Trần Thủ Độ sắp xếp nhường ngôi cho Trần Cảnh (Trần Thái Tông), triều đại nhà Lý cai trị Đại Việt hơn 200 năm đã chính thức kết thúc. Sau khi nhượng vị, Chiêu Hoàng trở thành Chiêu Thánh hoàng hậu của Thái Tông cho tới khi bị phế truất vào năm 1237 (lúc đó Chiêu Hoàng 19 tuổi), vì bấy giờ bà không sinh được con nối dõi. Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, người kế vị ngôi hoàng hậu sau đó, đúng là chị ruột của bà.

Sau năm 1258, ở tuổi 40, bà tái giá lấy Lê Phụ Trần, một viên tướng có công cứu giúp Thái Tông. Hai người sống với nhau hơn 20 năm và sinh được 1 trai là Thượng vị hầu Lê Tông và 1 gái là Ứng Thụy công chúa Ngọc Khuê. Bà qua đời ngay sau Thái Tông khoảng 1 năm. Cuộc đời của bà đầy phức tạp và thảm kịch, trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều tác phẩm thi ca nhạc họa.

Trong lịch sử Việt Nam, Lý Chiêu Hoàng là vị Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất
Trong lịch sử Việt Nam, Lý Chiêu Hoàng là vị Nữ hoàng trước tiên và duy nhất

8


Green Apple

Bà Hoàng Thị Loan (1968 – 1901)

Hoàng Thị Loan (thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sinh
năm 1868 trong một gia đình Nho học, nhưng mọi người trong gia đình đều trực tiếp
tham gia lao động. Bà có dung nhan xinh đẹp, duyên dáng, tính tình thùy mị, nết
na, luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, chăm chỉ làm công việc. Bà lớn lên đã tiếp
thu sự giáo dục tiến bộ của gia đình, bà thuộc rất nhiều làn điệu câu ví và sự
thông hiểu đạt tới mức sâu sắc.

Bà đã đồng ý cuộc sống vất vả, khó khăn khi kết hôn với
ông Nguyễn Sinh Sắc vào cuối năm 1883 – một người mồ côi cả cha lẫn mẹ nhưng hiếu
học. Bà hạ sinh được 4 người con và bằng toàn bộ tấm lòng yêu anh xã, thương con,
Bà đã hi sinh toàn bộ để vun đắp nên cuộc đời và sự nghiệp đẹp đẽ của họ.
Hoàng Thị Loan
đã tác động đến Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một nền văn hoá dân
gian mang đậm bản sắc địa phương, truyền thống dân tộc, phản ánh trung thực những
khát vọng ý chí và phẩm chất của tầng lớp lao động dân dã.

Ngày 10 tháng 2 năm 1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý)
tại Kinh đô Huế, Bà đã qua đời ở tuổi 33 do lao động quá sức, cuộc sống thiếu
thốn dẫn đến lâm bệnh nặng.

Để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã có công
sinh thành và dưỡng dục Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1984, Đảng bộ và nhân dân tỉnh
Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4 xây dựng khu mộ của Bà khang
trang, đẹp đẽ.

Bà Hoàng Thị Loan
Bà Hoàng Thị Loan

9


Green Apple

Nữ tướng Nguyễn Thị Định (1920 – 1992)

Nguyễn Thị Định còn được gọi là Ba Định có bí
danh là Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất và Ba Hận là nữ tướng trước tiên của Quân đội
Nhân dân Việt Nam.

Bà xuất thân từ gia
đình nông dân tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và bắt đầu tham
gia Cách mạng từ trào lưu Đông Dương đại hội năm 1936 với vai trò liên lạc, rải
truyền đơn, vận động bà con chống lại sự áp bức, bóc lột ở địa phương.

Bà được kết nạp vào Đảng
Cộng sản Đông Dương năm 1938 và tiếp tục tham gia những trào lưu cách mạng.
Trong quy trình đó, bà đảm nhận chức vụ Phó bí thư Tỉnh ủy bến Tre, và là người
trực tiếp lãnh đạo cuộc Đồng khởi Bến Tre đợt I (17/1/1960) ở ba điểm xã Định Thủy,
Bình Khánh và Phước Hiệp thắng lợi, mở đầu cho trào lưu Đồng khởi. Sau cuộc Đồng
khởi, bà làm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre. Bà được Liên Xô trao tặng phần thưởng Hòa bình Lênin năm 1968.

Sau khi miền Nam hoàn
toàn giải phóng, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy
viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội VIệt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam,… và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà được Chủ tịch nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1995 – ba năm sau khi bà mất.
Đền thờ bà được lập tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến
Tre, tên của bà cũng được đặt cho nhiều tuyến đường và trường học ở Việt Nam.

Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Nữ tướng Nguyễn Thị Định

10


Nguyễn Anh

Nam Phương Hoàng hậu

Bà là vợ của Vua Bảo Đại, ông vua sau cuối trong lịch sử Việt Nam ham chơi, bù nhìn cho Pháp, nhưng bà là một Hoàng hậu có đủ phẩm cách, một phụ nữ hiền thục, nhân từ và đạo đức, đúng với cái tên của Bà – Nam Phương-mừi hương của phương Nam.

Bà tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 14-12-1914, tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình giàu sang vào hàng đầu Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Mặc dù quê ở Tiền Giang nhưng Nguyễn Hữu Thị Lan mang quốc tịch Pháp với tên Pháp là Mariette Jeanne, sống và học tại thành phố sài thành. Năm 12 tuổi, Thị Lan được gửi sang Pháp học trường nữ sinh danh tiếng tại Paris. Tháng 9-1932, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước.

Thời gian làm Hoàng hậu của bà Nam Phương chỉ nối dài hơn 10 năm, kể từ năm 1934 đến năm 1945 khi Vua Bảo Đại buộc phải thoái vị do cuộc Cách mạng tháng Tám lịch sử. Ngày 30 tháng 8 năm 1945, trong tuyên bố thoái vị, Vua Bảo Đại nói: Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ. Đây cũng là dấu mốc chấm hết tham vọng chính trị của Nam Phương và bà phải sống một cuộc đời xa xứ, cô đơn lạnh lẽo cho tới cuối đời.

Trong khí thế cách mạng của toàn dân quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng, tại Huế, Hoàng hậu Nam Phương đã thể hiện tinh thần yêu nước của tớ. Ngày 17 tháng 9 năm 1945, Bà là người trước tiên đến nơi Mặt trận Việt Minh tổ chức “Tuần lễ vàng” tại Huế, tự nguyện tháo hết trang sức quý bằng vàng mang trên người hiến tặng cho cách mạng. Tại đây, Bà được gắn một huy hiệu in cờ đỏ sao vàng. Khi thực dân Pháp quay về xâm lược Việt Nam, bà Nam Phương đã viết một thông điệp gửi cho bè bạn Á châu đề nghị họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lược của Pháp. Thông điệp đó được Nhà sử học Pháp Jean Renaud ghi lại trong một cuốn sách do Nhà Xuất bản Guy Boussac ấn hành tại Pháp năm 1949. Bà viết: “Kể từ tháng 3 năm 1945 nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp. Nhưng vì lòng tham của thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của liên minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đó đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm hết chiến tranh đang ngày đêm tàn phá giang sơn tôi. Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu toàn bộ bè bạn của tôi và bè bạn của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin những Chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của toàn bộ đồng bào chúng tôi”.

Với tư cách hoàng hậu, Nam Phương đã giúp cho vua Bảo Đại trong những hoạt động ngoại giao, đón tiếp những quốc khách, giao thiệp với Pháp. Nam Phương là vị Đệ nhất phu nhân Việt Nam trước tiên được giao phụ trách những công việc xã hội, làm khuyến học, khen thưởng học viên giỏi, giúp đỡ người nghèo, tôn vinh vai trò của người phụ nữ trong xã hội.Hoàng hậu Nam Phương có với Bảo Đại 5 người con. Hai hoàng tử và ba công chúa.

Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam năm 1947. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng những con tại Perche, một làng cổ ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin nước Pháp. Bà mất ngày 14 tháng 9 năm 1963.

Chân dung Nam Phương Hoàng hậu.
Chân dung Nam Phương Hoàng hậu.

11


Nguyễn Anh

Chị Võ Thị Sáu

Cuộc đời chị Võ Thị Sáu trở thành huyền thoại, sống mãi cùng dân tộc bởi “có những cái chết trở thành bất tử”.

Sinh ra và lớn lên trên miền quê giàu truyền thống yêu nước, lại chứng kiến cảnh thực dân Pháp giết chóc đồng bào, chị Sáu đã không ngần ngại cùng những anh trai tham gia cách mạng.

Tháng 11/1948, Võ Thị Sáu mang theo lựu đạn, trà trộn vào đám người đi làm căn cước. Giữa buổi, chị ném lựu đạn vào nơi làm việc của Tòng, hô to “Việt Minh tiến công” rồi kéo mấy chị em cùng chạy. Lựu đạn nổ, tên Tòng bị thương nặng nhưng không chết. Tuy nhiên, vụ tiến công khiến bọn lính đồn khiếp vía, không dám truy lùng Việt Minh ráo riết như trước.

Tháng 2/1950, Võ Thị Sáu tiếp tục nhận nhiệm vụ ném lựu đạn, tiêu diệt hai chỉ điểm viên của thực dân Pháp là Cả Suốt và Cả Đay rồi không may bị bắt. Trong hơn một tháng bị giam tận nơi tù Đất Đỏ, dù bị giặc tra tấn dã man, chị không khai báo. Địch phải chuyển chị về khám Chí Hòa. Chị Sáu tiếp tục làm liên lạc cho những đồng chí trong khám, cùng chị em tại tù đấu tranh đòi cải thiện cuộc sống nhà tù.

Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt của Võ Thị Sáu, thực dân Pháp và tay sai mở phiên tòa, kết án xử tử đối với nữ chiến sĩ trẻ. Chúng chuyển chị cùng một số người tù cách mạng ra nhà tù Côn Đảo.

Nhờ sự kiên trì, dũng cảm, trung thành, Võ Thị Sáu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và công nhận là Đảng viên chính thức ngày đêm trước khi hy sinh.

Chị Võ Thị Sáu nhiều lần được khen ngợi nhờ không ngại gian khó, dũng cảm tham gia chiến đấu, bảo vệ quê hương.
Chị Võ Thị Sáu nhiều lần được khen ngợi nhờ không ngại gian khó, dũng cảm tham gia chiến đấu, bảo vệ quê.

12


Nguyễn Anh

Bà Tôn Nữ Thị Ninh

Gốc gác cung đình Huế, người phụ nữ có vẻ đẹp bề ngoài cổ trang Tôn Nữ Thị Ninh lại là điển hình vượt qua mọi định kiến. Mỗi khi xuất hiện, cho dù là ở hoạt động ngoại giao, giáo dục hay văn hóa, trong những cuộc nói chuyện với sinh viên hay hoạt động từ thiện, xã hội, bà lúc nào cũng gây ấn tượng về sự lịch thiệp, duyên dáng, và đặc biệt là tầm vóc trí tuệ.

Trí tuệ mẫn tiệp, sắc sảo và tính cách sắt đá, cương quyết, bà đã công tác trong ngành ngoại giao hơn 20 năm, trở thành chiếc cầu nối trái đất và VN, đảm nhiệm rất nhiều vị trí quan trọng, hỗ trợ cho phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại những vòng đàm phán Hiệp định Paris, đại sứ ở Bỉ, Luxembourg, kiêm trưởng phái đoàn đại diện VN với Liên minh Châu Âu tại Brussels (Bỉ), đại sứ đặc mệnh toàn quyền của VN tại Liên minh Châu Âu, Phó Chủ tịch Ủy ban đối ngoại quốc hội, Đồng chủ tịch nhóm đối thoại Việt-Mỹ về chất độc da cam/dioxin; Phó chủ tịch Ủy ban Hòa bình VN, Chủ tịch Hội đồng sáng lập ĐH Trí Việt…

Trong suốt quãng đời hoạt động ngoại giao, nhiều lần bà khiến mọi người bất ngờ vì cách tranh luận thẳng thừng, khí khái, truyền thống được thừa hưởng từ gia đình gốc Huế, khác hẳn với vẻ bề ngoài dịu dàng, kín đáo mà vẫn quyến rũ. Là phụ nữ, để hoàn toàn có thể hoạt động được trong ngành ngoại giao đã khó, phối kết hợp được cương – nhu càng khó hơn, và quan trọng nhất, Theo chị, là phải không được khóc…

Điều này đúng cả trong những chuyện lớn lao như khi phải đấu tranh cam go với những bên quanh bàn đàm phán để hoàn toàn có thể giành được thành công, tôn vinh dân tộc; mà cũng đúng trong cả trong những chuyện đời thường như vượt qua định kiến về “phái yếu” vốn bị “đóng đinh” là nhỏ nhen, không tồn tại chiến lược, thiếu tầm nhìn… trong con mắt 1 nửa sót lại của trái đất.

Vượt qua định kiến, lao vào gian khó và tỏa sáng với thành công rực rỡ, Tôn Nữ Thị Ninh tự chọn cho mình hình ảnh “ngọn lửa trên cao” để thể hiện một cuộc đời luôn rực cháy, thôi thúc bởi hoài bão và mong muốn truyền lửa tri thức và văn hóa đến giới trẻ.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh
Bà Tôn Nữ Thị Ninh

13


Nguyễn Anh

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Với nhân dân Việt Nam và nhân dân trái đất, cái tên Nguyễn Thị Bình trở thành quá đỗi thân quen, gần gũi.


Nguyễn Thị Bình (sinh vào năm 1927) là một nữ chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam. Bà nổi tiếng trên trái đất khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện những bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam từ 1992 đến 2002.

Sau khi nghỉ hưu vào năm 2002, bà tiếp tục làm Chủ tịch của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Năm 2003, bà xây dựng Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và làm Chủ tịch của tổ chức này cho tới nay. Ngoài ra, bà cũng là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam kể từ khi hội này được xây dựng vào tháng 1/2004. Năm 2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng cho bà Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những công lao to lớn của bà đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình
Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Từ khóa: Top 13 Phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam, Top 13 Phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam, Top 13 Phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *