Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương để thấy những tâm tình của người phụ nữ tài “thiên tài kì nữ” nhưng cuộc đời lại lắm bất hạnh, éo le. Bên cạnh đó, tìm hiểu bài thơ ta còn thấy những khát khao hạnh phúc, những ý chí quật cường vượt lên số phận của người nữ sĩ ấy… Trong nội dung bài viết dưới đây, hãy cùng DINHNGHIA.VN tìm hiểu và phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương. 

Mở bài cho bài thơ Tự tình 2

Hồ Xuân Hương được biết đến là một nữ sĩ tài danh giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Bà chúa thơ Nôm được xem như hiện tượng đặc biệt của thơ ca trung đại nước nhà, tuy tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời của Hồ Xuân Hương được ghi nhận là truân chuyên “hồng nhan bạc phận” như bao thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nữ sĩ họ Hồ đã bao lần mang cái nhỏ bé tội tình của thân phận người phụ nữ vào trong những sáng tác của mình với những buồn tủi, đau đớn qua những tình cảnh éo le tội nghiệp. Qua đó, bà đã nói lên tiếng nói của tự do và hạnh phúc lứa đôi…

Mở bài 2: 

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son…”

(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

Nếu ở những dòng thơ trên, Hồ Xuân Hương đã khẳng định vẻ đẹp người phụ nữ thì ở bài thơ Tự tình đó là một tiếng thơ có phần đau xót buồn bã cho thận phận mình nói riêng và thân phận người phụ nữ nói chung. Đến với tự tình, người đọc sẽ bắt gặp một giọng thơ u uất tràn đầy tâm sự của người nữ sĩ những tưởng mạnh mẽ này nhưng lại thoáng chút sầu cảm trong bài thơ Tự tình này.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tĩnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Mục lục

  • 1 Những nét chính về Hồ Xuân Hương và Tự tình 
    • 1.1 Giới thiệu bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương 
    • 1.2 Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tự tình 2
  • 2 Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 
    • 2.1 Hai câu đề: Không gian cùng tâm tư của nữ sĩ 
    • 2.2 Hai câu thực: Tâm tư của nữ sĩ qua chén rượu và vầng trăng
    • 2.3 Hai câu luận: Sự mạnh mẽ quật khởi trong tâm hồn nữ sĩ 
    • 2.4 Hai câu kết: Những trải lòng về thân phận người phụ nữ 
  • 3 Đánh giá nghệ thuật khi phân tích bài thơ Tự tình 
  • 4 Dàn ý phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương ngữ văn 11
    • 4.1 Mở bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 
    • 4.2 Thân bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 
    • 4.3 Kết bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 

Những nét chính về Hồ Xuân Hương và Tự tình 

Để hiểu hơn về giá trị của tác phẩm cũng như ý nghĩa tư tưởng mà bà chúa thơ Nôm đã gửi gắm, trước khi phân tích bài thơ Tự tình, hãy cùng tìm hiểu sơ nét về tác giả Hồ Xuân Hương cùng tác phẩm. 

Giới thiệu bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương 

Hồ Xuân Hương đến nay vẫn là cái tên gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng Hồ Xuân Hương của chữ Hán và Hồ Xuân Hương của chữ Nôm là hai người hoàn toàn khác nhau. Dù có nhiều giả thuyết xoay quanh nhân vật lịch sử này nhưng tính đến thời điểm hiện tại hầu như chưa có ai vượt qua danh hiệu “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương. 

Theo nhiều sử sách, chuyện kể ghi lại, Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy sóng gió. Đó là giai đoạn biến động lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, cùng giai đoạn với Nguyên Du. Triều đình nhũng đoạn, quan liêu tham nhũng khắp nơi, xã hội ngày càng suy thoái.

Trong bầu không khí ngột ngạt của lịch sử và nhiều phong trào khởi nghĩa nông dân diễn ra, nhân dân cũng bắt đầu nổi dậy đòi quyền sống, quyền hạnh phúc chính đáng của con người. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân tác động đến hồn thơ của Hồ Xuân Hương. Đó là một hồn thơ cá tính mạnh mẽ gai góc nhưng giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở về quyền sống của con người. 

Chính vì vậy, bà phản ứng mạnh mẽ trước những trớ trêu bạc bẽo của thân phận người phụ nữ: kiếp làm lẽ lấy chồng chung, không được quyền quyết định số phận cuộc đời. Đau đớn nhưng luôn khắc khoải về cuộc sống, hi vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn, hy vọng có được tình yêu hạnh phúc để sưởi ấm trái tim lạnh giá. Nhưng càng chờ đợi thì lại càng thất vọng.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tự tình 2

Bên cạnh mảng thơ trào phúng châm biếm, Hồ Xuân Hương còn có một mảng thơ trữ tình thiên về bộc lộ cảm xúc. Xét về số lượng mảng thơ trữ tình lại ít hơn, nhưng mỗi bài thơ trữ tình lại mang một tâm sự khiến cho người đọc không khỏi xúc động. Chùm thơ tự tình gồm ba bài thơ. Mỗi bài thơ mang một tiếng nói riêng nhưng tựu chung trong những bài thơ ấy là một tiếng nói khát khao tình yêu cuộc sống. 

Hình tượng người phụ nữ trong hệ thống chùm thơ của Hồ Xuân Hương đã cho thấy vẻ đẹp vừa dịu dàng đằm thắm đầy nữ tính, lại vừa có cá tính mạnh mẽ. Đặc biệt là trong Tự tình II, bài thơ vừa có sự u uất đối với thân phận, lại vừa có sự mạnh mẽ của sức sống bất diệt.

tìm hiểu và phân tích bài thơ tự tình của hồ xuân hương
Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương

Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 

Tiếng lòng trong bài thơ được thể hiện rất rõ qua kết cấu đề – thực – luận – kết cùng với tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình. Chính vì thế, phân tích bài thơ Tự tình là việc cảm nhận những cung bậc tình cảm và sự trải lòng của người phụ nữ trong tác phẩm. 

Hai câu đề: Không gian cùng tâm tư của nữ sĩ 

Bài thơ được mở đầu bằng hai câu thơ:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Ngay từ đầu, tác giả đã gợi mở không gian và thời gian của nỗi niềm. Đó “đêm khuya”, đây cũng là lúc con người sống thật với nội tâm của mình, bỏ qua với mọi bộn bề của cuộc sống cũng như bỏ qua cả sự giả tạo đè nặng trên vai. Con người trần trụi đối mặt với nội tâm của mình. Đây cũng là lúc con người phơi này thổ lộ hết mọi nỗi niềm, tâm sự. Thời gian nghệ thuật ấy là một thời gian quen thuộc trong thơ ca như Bà huyện Thanh Quan cũng từng trải lòng cùng khung cảnh non nước vào buổi chiều tà.

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

…..

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Hay Hồ chủ tịch cũng từng mượn thời gian chiều tối để viết nên kiệt tác “Mộ”

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”

Từ láy tượng thanh “văng vẳng” vang lên gợi được không gian như được mở rộng theo mỗi tiếng trống canh. Không gian càng được rộng mở thì con người ngày càng cô đơn, chìm dần trong thế giới nội tâm phức tạp của mình. Phân tích bài thơ Tự tình sẽ thấy không gian vắng lặng đến thế nào mới có thể nghe thấy tiếng trống canh dồn dập vang lên. Tiếng trống canh dường như đã trở nên gấp gáp thúc giục, nỗi niềm của người phụ nữ cũng thế. Tiếng trống canh như đã hối thúc nhân vật trữ tình giãi bày nỗi niềm của mình. Không gian và thời gian chính là cái nền để cho nhân vật thể hiện tâm tình của mình. 

Đến câu thơ tiếp theo mang nặng một nỗi niềm:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Từ “trơ” đứng đầu câu mang một sức gợi thật đặc biệt. Trơ có nhiều cách hiểu. Đó có thể là sự trơ trọi, cô đơn giữa không gian rộng lớn, thời gian vắng lặng gợi một nỗi buồn. Trơ còn có thể hiểu là trơ lì, không cảm xúc, như từ trơ trong câu thơ của Bà huyện Thanh Quan.

“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương.”

Nếu hiểu theo cách này ta sẽ thấy nỗi buồn ấy còn đau đớn hơn gấp bội. Buồn bã hi vọng rồi tuyệt vọng đến mức chẳng còn cảm xúc với nỗi buồn, không còn hi vọng gì nữa. Thế nhưng tuy hiểu theo cách nào ta vẫn thấy một nỗi buồn man mác tràn đầy khắp câu thơ…

Hồng nhan chính là vẻ đẹp của người phụ nữ, đây chính là điều đáng tự hào cũng như đáng được trân trọng. Phân tích bài thơ Tự tình, ta thấy hồng nhan ấy lại được kết hợp với từ “cái”. Từ “cái” vốn chỉ những vật nhỏ bé tầm thường không đáng được tôn trọng có thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Vậy tại sao lại có sự kết hợp này. Sự kết hợp này khiến cho ta có cảm giác vẻ đẹp ấy lại bị rẻ rúng. Đối lập với cá nhân nhỏ bé chính là không gian rộng lớn bao la “với nước non”. Không gian càng rộng lớn thì con người hiện lên càng bé nhỏ. 

Trước dòng đời rộng lớn, con người chỉ như một hạt cát. Và lẽ tất yếu con người không thể thắng được quy luật của tạo hóa. Trước sự chảy trôi của thời gian, tuổi thanh xuân của người phụ nữ dần trôi qua mà tình cảnh vẫn hoài đơn chiếc… Những ý thơ của Hồ Xuân Hương đã phần nào nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Hai câu thực: Tâm tư của nữ sĩ qua chén rượu và vầng trăng

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

“Chén rượu” xuất hiện trong câu thơ nhưng đây không phải là thú tiêu dao như các thi nhân mà Hồ Xuân Hương lại mượn rượu để giải sầu như Lí Bạch thuở xưa. Mượn rượu để say để quên đi nỗi buồn thế nhưng đáng buồn là càng uống lại càng tỉnh không thể quên đi nỗi buồn như câu thơ của Lí Bạch. Tâm trạng của nữ sĩ đại diện cho biết bao hình ảnh người phụ nữ trong văn học trung đại

“Dùng gươm chém nước, nước chẳng dứt

Uống rượu tiêu sầu, sầu vẫn sầu”

Hay đó còn là tâm sự của nàng Kiều:

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa.”

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng thế, bà cũng tìm đến men rượu để lãng quên đi thực tại nhưng lại rồi lại tỉnh lại thấy mình chỉ đơn chăn gối chiếc. Men rượu như một chất xúc tác kỳ lại khiến cho nỗi niềm ấy càng thêm đau đớn gấp bội phần. Tỉnh để mà chi để rồi nhận ra cay đắng ê chề ở thực tại. 

Phân tích bài thơ Tự tình sẽ thấy hình ảnh vầng trăng hiện ra gợi về thời gian đêm tối. Nếu vầng trăng trong thơ thường là vầng trăng tròn thì vầng trăng trong thơ Hồ Xuân Hương lại là vầng trăng khuyết. trăng khuyết như chính sự cô đơn lẻ loi của bà. Và đó cũng chẳng là vầng trăng non, trăng mới nhú mà chỉ là “vầng trăng bóng xế”. Bóng xế là bởi thời gian trôi qua, nhan sắc người phụ nữ cũng dần trở nên già cỗi. Tuổi già đã đến nhưng tình duyên vẫn còn đơn lẻ, có chồng nhưng lại chịu kiếp chồng chung nên có cũng như không. 

Vì vậy mới là lí do “khuyết chưa tròn”. Đã “khuyết” lại còn “chưa tròn”. Sự lặp lại ý nghĩa ấy càng nhấn mạnh hơn sự cô đơn quạnh quẽ của người phụ nữ. Cô gái ấy đã vùi lấp tuổi xuân hoang phí tuổi xuân, càng khát khao tình yêu thì lại càng đau đớn tuyệt vọng hơn. Hình ảnh thơ tuy đẹp nhưng gợi lên một nỗi buồn mênh mang về thân phận người phụ nữ…

Hai câu luận: Sự mạnh mẽ quật khởi trong tâm hồn nữ sĩ 

Hồ Xuân Hương không thể bi lụy như vậy, ở hai câu thơ tiếp theo chính là sự quật khởi tinh thần:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Phân tích bài thơ Tự tình sẽ thấy biện pháp đảo ngữ được sử dụng thật đắc. Những động từ mạnh được đưa lên đầu nhằm thể hiện sức sống. “Rêu từng đám”, “đá mấy hòn” để chỉ những sự vật nhỏ bé nhưng chúng vẫn ngoan cường cố gắng, thách thức số phận. Những sự vật ấy chỉ là rêu, đá tuy bé nhỏ nhưng vô cùng mạnh mẽ quật khởi. Đó cũng chính là sự quật khởi của tinh thần nữ sĩ. Đó là mới Hồ Xuân Hương gan góc mà mọi người biết đến. Ta bắt gặp trong hai câu thơ ấy là một tinh thần gan góc đối mặt như trong nhiều bài thơ khác của nữ sĩ.

Thân này đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

Cuộc đời có bi quan bao nhiêu nhưng Hồ Xuân Hương cũng không nhìn đời bằng đôi mắt bi quan. Thiên nhiên còn có thể mạnh mẽ tràn đầy sức sống như thế huống cho là con người. Con người không thể không dũng cảm đối mặt với cuộc sống.

Hai câu kết: Những trải lòng về thân phận người phụ nữ 

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Nếu ở những câu thơ trên nỗi buồn hiện ra nhưng đến hai câu kết lại là một nỗi chán chường. Mùa xuân hiện ra thường gợi cuộc sống yên vui hạnh phúc, vạn vật nảy nở sinh sôi vì vậy mùa xuân thường gợi ra sự vui vẻ. Nhắc đến mùa xuân ai cũng thấy yên ấm hạnh phúc. Nhưng đến với hai câu thơ của Hồ Xuân Hương mùa xuân lại không hạnh phúc yên vui mà đó chỉ đơn thuần là sự lặp lại vô hồn của thời gian. Đó vốn là quy luật của đất trời như Mãn Giác thiền sư từng viết.

“Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai”

Nhưng ở đây sự lặp lại mùa xuân hoàn toàn vô nghĩa bởi xuân có đến nhưng tình người vẫn nguội lạnh. Ở đây ta bắt gặp một ý thơ rất “thơ mới”, chính Xuân Diệu sau này từng viết.

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

Bởi với Hồ Xuân Hương mùa xuân trở lại chỉ khiến cho nỗi buồn sự cô đơn càng thêm triền miên dai dẳng. Vì thế “xuân lại lại” thể hiện một nỗi chán chường. Kết hợp với “mảnh tình” đã cụ thể hóa tình cảnh của nhà thơ. Tình cảm vốn mong manh nay lại càng mong manh hơn. Đã vậy, nhân vật trữ tình còn phải san sẻ tình cảm ấy. Trong tình yêu, ai cũng muốn chiếm hữu cho riêng mình, nhưng nhà thơ lại phải chia sớt chút tình cảm ít ỏi đó. “San sẻ tí con con” còn có thể hiểu nhà thơ chỉ mong được hưởng một chút tình yêu thương, một chút hơi ấm tình yêu. Nhưng hy vọng bao nhiêu để rồi nhận lại chỉ là thất bại đau đớn.

Đánh giá nghệ thuật khi phân tích bài thơ Tự tình 

Phân tích bài thơ Tự tình sẽ thấy tác phẩm được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật nghiêm trang, nhưng đọc bài thơ ta không hề thấy lạ lẫm mà tựa hồ như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Đây cũng chính là một thành công mang đậm dấu ấn cá nhân của Xuân Hương. Chính cách sử dụng hình ảnh mộc mạc kết hợp với việc lựa chọn ngôn ngữ đã góp phần tạo nên cá tính riêng cho hồn thơ Hồ Xuân Hương. Mượn lời thơ để giãi bày nỗi niềm tâm sự.

Kết bài: Bài thơ đã khép lại nhưng vẫn khiến cho người đọc đau đáu về nỗi niềm cô đơn. Không chỉ là sự đồng cảm mà đây còn là một tiếng nói phê phán xã hội phong kiến đương thời cướp mất quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ.

Dàn ý phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương ngữ văn 11

Để giúp bạn nắm được nội dung cụ thể của bài viết trên, dưới đây hãy cùng DINHNGHIA.VN khái quát dàn ý phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương.

Mở bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 

  • Tóm tắt đôi nét chính về nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
  • Giới thiệu bài thơ Tự tình 2 là tác phẩm nổi bật của tác giả.
  • Dẫn dắt vào vấn đề: phân tích bài thơ Tự tình.

Thân bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 

  • Hai câu đề: Tâm trạng của nữ sĩ trong không gian đêm khuya.
  • Hai câu thực: Chén rượu và vầng trăng là người bạn của nữ sĩ.
  • Hai câu luận: Ý chí quật cường trong tâm hồn của tác giả.
  • Hai câu kết: Thân phận người phụ nữ qua những trải lòng của nữ sĩ.

Kết bài phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương 

  • Nhấn mạnh lại ý nghĩa của bài thơ, giá trị tư tưởng và nghệ thuật nổi bật của tác phẩm.
  • Bày tỏ những suy nghĩ khi tìm hiểu và phân tích bài thơ Tự tình 2.

Có thể thấy, bài thơ “Tự tình 2” là những trải lòng của bà chúa thơ Nôm về thân phận của những người phụ nữ xưa. Đó chính là những bộc bạch vừa đau xót buồn tủi, lại thể hiện ý chí mạnh mẽ trong tâm hồn họ, ấy vậy mà vẫn không thoát khỏi bi kịch, vẫn bị xã hội thực dân nửa phong kiến chà đạp… “Tự tình 2” đâu chỉ mang nỗi lòng sâu thẳm của mình tác giả, mà còn là tiếng nói khát khao hạnh phúc của biết bao người phụ nữ.

DINHNGHIA.VN đã cung cấp cho bạn những ý văn hay khi phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương. Hy vọng bạn đã tìm thấy những kiến thức thú vị và hữu ích trong bài viết trên. Nếu có bất cứ câu hỏi hay thắc mắc gì về chủ đề của bài viết Phân tích bài thơ Tự tình, đừng quên để lại ở nhận xét bên dưới để cùng với giáo viên của chúng tôi trao đổi thêm nhé!. Chúc bạn luôn học tốt!. 

Xem chi tiết qua bài giảng của cô Bùi Thùy:


(Nguồn: www.youtube.com)

Xem thêm:

  • Cảm nhận về bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
  • Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương – Văn học 11
  • Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ – Văn 11
  • Cảm nhận và phân tích Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương – Văn 11
  • Phân tích bài thơ Thu điếu – Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Please follow and like us:
error

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *