Văn học

THƠ ĐƯỜNG

Tác giả: Văn học

THƠ ĐƯỜNG:

toàn bộ thơ ca đời Đường, từ thế kỉ 7 - 10 (618 - 907). Đời Đường (Tang) có hàng nghìn nhà thơ, thơ của họ được bảo tồn trong cuốn "Toàn Đường thi" gồm 48.900 bài. Đời Thanh có chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú ("Đường thi tam bách thủ") được phổ biến rộng rãi, nhất là ở Việt Nam. Có 4 giai đoạn: Sơ Đường (khoảng 618 - 713), Thịnh Đường (khoảng 713 - 766), Trung Đường (khoảng 766 - 835), Vãn Đường (khoảng 835 - 907). Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" [Dương Quýnh (Yang Jiong), Lư Chiếu Lân (Lu Zhaolin), Lạc Tân Vương (Luo Binwang), Vương Bột (Wang Bo)] đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước (Lục triều). Nhưng tới Trần Tử Ngang (Chen Zi'ang) thì mới có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường [Thẩm Thuyên Kỳ (Shen Shuanqi), Tống Chi Vấn (Song Zhiwen)]. Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang  làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch (Li Bai), Đỗ Phủ (Du Fu) và Bạch Cư Dị (Bai Juyi). Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, người theo đạo Nho, người theo đạo Phật hoặc theo Lão Trang. Có loại thơ "biên tái" [Cao Thích (Gao Shi), Sầm Tham (Cen Can)], thơ "điền viên" [Vương Duy (Wang Wei), Mạnh Hạo Nhiên (Meng Haoran)], thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn), thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường [Bì Nhật Hưu (Pi Rixiu), Đỗ Tuấn Hạc (Du Xunhe)], theo khuynh hướng hiện thực của Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật (x. Thơ luật Đường), thơ cổ phong (x. Cổ phong) và nhạc phủ (x. Nhạc phủ). Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông. Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình. Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau. Nhưng về ngôn ngữ, TĐ tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú. Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ (ý ngoài lời); đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ. Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến. Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Văn học