Triết học

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN

Tác giả: Triết học

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN:

những hình thức tồn tại cơ bản của vật chất. Khái niệm không gian dùng để chỉ sự cùng tồn tại và tính tách biệt của các sự vật với nhau, quảng tính, tính có cấu trúc và trật tự phân bố của chúng. Khái niệm thời gian đặc trưng cho trình tự diễn tiến của các quá trình vật chất, tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của chúng, sự phát triển của chúng.

 Trong lịch sử triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về KGVTG. Các nhà triết học duy tâm phủ nhận tính khách quan của KGVTG, xem chúng là cái lệ thuộc vào ý thức cá nhân [Beccơli G. (G. Berkeley), Hium Đ. (D. Hume), Makhơ E. (E. Mach)], là những hình thức tiên thiên của trực quan cảm tính [Kantơ I. (I. Kant)] hay là phạm trù của tinh thần tuyệt đối [Hêghen G. W. F. (G. W. F. Hegel)]. Chủ nghĩa duy vật nhấn mạnh tính khách quan của KGVTG. Song quan điểm của các nhà duy vật trước Mac (K. Marx) mang tính siêu hình, coi không gian là khoảng không, tuyệt đối và bất biến [Đêmôcrit (Democrite), Êpiquya (Epicure)] hoặc coi KGVTG là những thực thể đặc biệt không gắn bó gì với nhau và tồn tại độc lập bên cạnh vật chất [Niutơn  I. (I. Newton)]. Trái với những quan điểm đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng KGVTG gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và gắn liền với vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất. Điều đó có nghĩa là không có một dạng vật chất nào tồn tại bên ngoài KGVTG. Ngược lại, cũng không thể có KGVTG nào ở ngoài vật chất. Enghen  F. (F. Engels) đã khẳng định rằng: "Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian và tồn tại ngoài thời gian cũng hoàn toàn vô lí như tồn tại ngoài không gian". Luận điểm đó của Enghen đã được nhiều tài liệu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là thuyết tương đối của Anhxtanh  A. (A. Einstein) xác nhận. KGVTG có các thuộc tính sau đây: 1) Tính khách quan, nghĩa là KGVTG tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người; 2) Tính vĩnh cửu và tính vô tận, nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả về quá khứ lẫn tương lai, cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bên trái, cả về phía dưới lẫn phía trên; 3) Không gian luôn luôn có 3 chiều (chiều dài, chiều rộng và chiều cao), còn thời gian có một chiều (từ quá khứ tới tương lai). Khái niệm "không gian nhiều chiều" thường gặp trong các tài liệu khoa học hiện nay là một công cụ toán học bổ trợ, dùng trong quá trình nghiên cứu chứ không phải để chỉ không gian thực, không gian thực chỉ có 3 chiều. 4) Thuyết tương đối hiện đại chứng tỏ rằng số đo không gian, thời gian chỉ có tính xác định trong cùng một hệ thống tính toán, nhưng khi chuyển từ một hệ thống này sang một hệ thống khác chuyển động tương đối so với hệ thống thứ nhất, thì số đo không gian, thời gian biến đổi; trong hệ đang chuyển động thì kích thước của vật co lại, khối lượng của vật tăng lên, nhịp thời gian trôi chậm lại. Khi chuyển từ hệ thống này sang hệ thống khác, duy chỉ có khoảng cách không gian - thời gian giữa các sự kiện là không đổi. Như vậy là không gian và thời gian gắn bó với nhau, không tách rời trong không gian - thời gian 4 chiều, là hình thức duy nhất để hiệp đồng các sự kiện với nhau.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Triết học