Triết học

CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ

Tác giả: Triết học

CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ:

 hai phạm trù triết học. Khái niệm "chủ thể" lúc đầu [chẳng hạn ở Arixtôt (Aristote)] được dùng theo nghĩa rộng, có nghĩa là cái mang những đặc tính, trạng thái, hoạt động và về mặt này thì đồng nghĩa với khái niệm thực thể. Từ thế kỉ 17, khái niệm "chủ thể" và khái niệm tương quan với nó - "khách thể" - bắt đầu được dùng trước hết với ý nghĩa nhận thức luận. Theo nghĩa rộng, trong lí luận phản ánh, vật chất là chủ thể của mọi sự biến đổi. Theo nghĩa hẹp, chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn. Khách thể là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của chủ thể. Khách thể không phải là toàn bộ thế giới hiện thực, mà chỉ là một bộ phận nhất định của thế giới đó - bộ phận đang tác động qua lại với chủ thể. Chẳng hạn, mặc dù các hạt cơ bản như điện tử, proton… vốn tồn tại khách quan, nhưng chỉ đến cuối thế kỉ 19 mới trở thành khách thể nhận thức và hoạt động của con người.

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giải quyết khác nhau về vấn đề mối quan hệ giữa CTVKT. Chủ nghĩa duy vật trước Mac coi khách thể là cái tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể và hiểu nó là thế giới khách quan, còn theo nghĩa hẹp là đối tượng của nhận thức. Đồng thời, chủ thể được coi là cái gì đó thụ động, chỉ tiếp thu các tác động từ bên ngoài, chứ không có tác động gì đến khách thể. Các nhà duy tâm coi tác động qua lại giữa CTVKT và bản thân sự tồn tại của khách thể là bắt nguồn từ hoạt động của chủ thể; đồng thời, trên cơ sở đó, họ tìm cách giải thích vai trò tích cực của chủ thể trong nhận thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận khách thể tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể, song hai mặt đó có mối quan hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại với nhau, đó là hai mặt của quá trình nhận thức và thực tiễn. Khách thể không phải là mặt đối lập trừu tượng của chủ thể vì chủ thể tích cực cải tạo khách thể, và cơ sở của sự tác động qua lại giữa chúng là thực tiễn lịch sử xã hội của loài người. Trong quá trình đó, các mặt và các đặc tính của hiện thực khách quan trở thành khách thể của hoạt động thực tiễn, và chủ thể hình thành và biến đổi trong quá trình tích cực cải tạo thế giới bên ngoài. Là lực lượng tích cực trong mối liên hệ qua lại giữa CTVKT, con người, do đó, không thể hoạt động tuỳ tiện, vì khách thể vạch ra những ranh giới và giới hạn nhất định trong hoạt động của chủ thể. Chính trên cơ sở đó mà nảy sinh sự cần thiết phải nhận thức các quy luật của khách thể để làm cho hoạt động của chủ thể phù hợp với các quy luật đó, bởi vì mục đích của nó là phù hợp với lôgic phát triển của thế giới, do những nhu cầu của chủ thể và trình độ phát triển của sản xuất quyết định một cách khách quan. Tuỳ theo tình hình đó cũng như tuỳ theo trình độ nhận thức các quy luật khách quan, con người đề ra những mục tiêu tự giác mà trong quá trình phấn đấu đạt tới các mục tiêu đó, cả khách thể lẫn chủ thể đều biến đổi.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Triết học