Sinh học

TẾ BÀO

Tác giả: Sinh học

TẾ BÀO:

đơn vị cấu trúc của mọi cơ thể sống không kể virut, được nhà tự nhiên học người Anh Huc R. (R. Hooke) phát hiện năm 1665, nhưng phải đến năm 1839, các nhà sinh học người Đức Slâyđen (M. J. Schleiden) và Svan (T. Schwann) mới trình bày rõ ràng. TB nhân sơ (đường kính đặc trưng 1 mm) rất nhỏ so với TB nhân chuẩn (TB nhân chuẩn đường kính đặc trưng 20 mm). TB lớn nhất là TB trứng (trứng đà điểu Bắc Phi có đường kính 15 cm); TB nhỏ nhất là TB vi khuẩn (đường kính khoảng 0,1 mm). Tất cả mọi TB đều chứa vật liệu di truyền ở dạng ADN, làm nhiệm vụ kiểm tra những hoạt động của TB. Ở TB nhân sơ, ADN nằm trong nhân. Các TB đều có chất TB chứa các cơ quan tử khác nhau và được bao bọc bằng màng bào chất, để kiểm soát các chất thâm nhập và thải các chất thừa. TB thực vật có nhân sơ được bọc vỏ cứng. TB động vật và thực vật có sự khác nhau (hình vẽ), giữa TB nhân sơ và nhân chuẩn cũng có sự khác nhau. Ở sinh vật đa bào, TB được biệt hoá do chức năng khác nhau. Bên trong các TB khác nhau cũng có cơ quan tử khác nhau, mang chức năng khác nhau.

 

Tế bào nhân chuẩn

1. Không bào; 2. Lạp thể; 3. Ti thể; 4. Thể Gôngi;
5. Lưới nội chất thô; 6. Ribosom tự do; 7. Màng nhân; 8. Nhân;

9. Thể nhiễm sắc điển hình; 10. Chất dị nhiễm sắc; 11. Ti thể; 12. Màng sinh chất;

13. Lysosom; 14. Bóng Gôngi; 15. Thể Gôngi; 16. Lưới nội chất trơn; 17. Túi tiết; 18. Lông nhỏ

 

Tế bào nhân sơ

1. AND (vùng nhân); 2. Tế bào chất; 3. Ribosom;

4. Vỏ; 5. Thành tế bào; 6. Màng sinh chất; 7. Roi

Tế bào

Sơ đồ cấu tạo tế bào nhân chuẩn (Eukaryote) và tế bào nhân sơ (Prokaryote) của động vật và thực vật

 


Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Sinh học