Sinh học

SÁN LÁ RUỘT

Tác giả: Sinh học

SÁN LÁ RUỘT :

(Fasciolopsis buski), loài sán lá thuộc lớp Sán lá (Trematoda), họ Fasciolidae, thường thấy ở ruột lợn, ruột động vật nhai lại, động vật ăn thịt và gia cầm. Ở người, SLR có màu hơi đỏ, dài 2 - 7 cm, rộng 8 - 20 mm, dày 0,5 - 3 mm, tử cung chứa nhiều trứng. Khi ra khỏi cơ thể, sau 3 - 7 tuần, ấu trùng trưởng thành chui vào sống trong ốc, sau đó bám vào rong bèo, ngó sen, củ ấu, tạo thành nang trùng. Nang trùng có vỏ không bị chất toan dạ dày phá huỷ, bám vào niêm mạc tá tràng và đoạn trên hồi tràng gây tắc ruột, viêm hoặc làm tê liệt thành ruột. Kí chủ trung gian của SLR là ốc PlanorbisSegmentina. Lợn nhiễm sán do nuốt phải ấu trùng sán cùng với rau, bèo sống (rau lấp, rau muống, củ ấu, cây niễng, cây súng, vv.). Tỉ lệ lợn mắc sán ở phía bắc Việt Nam khá cao; lợn trên bốn tháng tuổi, lợn đực giống và lợn nái nhiễm cao nhất. Tác hại chủ yếu của bệnh: lợn tăng cân chậm, tiêu tốn nhiều thức ăn. Phòng bệnh: không tháo phân lợn tươi vào ao, hồ, nơi dùng để lấy nước hay trồng thả thức ăn cho lợn (bón phân trâu bò cho những ao, hồ này); ủ kĩ phân lợn trước khi dùng; không cho lợn ăn rau, bèo sống lấy ở những nơi ô nhiễm; diệt ốc kí chủ trung gian. Dùng thuốc tẩy sán cho lợn thịt  3 - 4 tháng tuổi (lần 1), và 7 - 8 tháng tuổi (lần 2), cho lợn nái sau khi cai sữa.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Sinh học