Sinh học

MÈO

Tác giả: Sinh học

MÈO:

(Felidae), họ động vật có vú, bộ Ăn thịt (Carnivora). Có đặc điểm: chạy nhảy nhanh, rình vồ bắt mồi. Bộ răng có răng nanh lớn, nhọn; răng hàm khoẻ, dẹt bên, có mấu nhọn. Hàm dưới có mấu khối hình trụ ngang, chỉ cử động theo chiều lên xuống nhờ đó mà mồm há được rất rộng. Đi bằng ngón hoặc bằng bàn chân, ngón có vuốt sắc nhọn. Thính giác và thị giác rất phát triển. Bán cầu não phát triển. Có 4 chi, 36 loài. Phân bố rộng. Ở Việt Nam, có 7 loài được ghi vào Sách Đỏ: mèo ri (Felis chaus), mèo gấm (F. marmorata), mèo cá (F. viverrina), báo lửa (F. temmincki), báo gấm (Neofelis nebulosa), báo hoa mai (Panthera pardus) và hổ (Panthera tigris). Các loài thú họ M đều có lợi đối với sản xuất nông - lâm nghiệp (mỗi ngày một con M có thể bắt 1 - 2 con chuột). Lông, da đẹp - dùng làm hàng xuất khẩu. Xương nấu cao (x. Hổ). Một số loài được thuần hoá làm cảnh, làm xiếc như M nhà (F. domestica); khi nuôi chúng cần lưu ý mèo có thể bị mắc và truyền bệnh dại (x. Bệnh dại). M là loại thú quý hiếm, là nguồn gen tự nhiên quý giá, cần có biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ chúng vì số lượng đang giảm sút nghiêm trọng.


Họ mèo

1. Mèo rừng; 2. Linh miêu; 3. Mèo rừng hàn đới; 4. Mèo ri; 5. mãn rừng;

6. Báo săn; 7. Mèo sao mạc; 8. Báo hoa mai; 9. Báo Châu Mĩ;

10. Sư tử; 11. Hổ, 12. Báo tuyết

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Sinh học