Sinh học

CHÂU CHẤU - CÀO CÀO

Tác giả: Sinh học

CHÂU CHẤU - CÀO CÀO:

(Acrididae), họ côn trùng bộ Cánh thẳng (Orthoptera). Biến thái không hoàn toàn. Căn cứ theo cấu tạo của tấm bụng đốt ngực trước, trán và đỉnh đầu, phân thành bốn phân họ: Châu chấu - cào cào (Acridinae); Châu chấu di cư (Oedipodinae); Châu chấu gai (Pyrgomorphinae); Châu chấu (Cyrtachantacrinae). Họ   CC - CC là họ lớn, có nhiều loài sâu hại nông, lâm nghiệp. Ở Việt Nam thường gặp 2 loài:

1) Châu chấu lúa (Oxya chinensis), đầu bằng, hai chân sau to khiến châu chấu lúa có thể nhảy nhanh. Con non màu xanh, con trưởng thành màu vàng nâu bóng hoặc xanh vàng. Dài 33 - 41 mm. Châu châu lúa đẻ trứng thành ổ dưới đất, mỗi con cái có thể đẻ 1 - 3 ổ trứng, mỗi ổ 16 - 102 trứng. Con cái có khả năng sống đến 3 tháng. Ban ngày, châu chấu lúa hoạt động mạnh vào khoảng thời gian 7 - 10 giờ và 16 - 17 giờ. Ban đêm, thường bay vào vùng có ánh lửa sáng. Là loài côn trùng hại lúa, ngô, mía, lạc, đậu, đỗ, cao lương, cải, các loại rau và một số loài cỏ dại. Cắn lá, cắn đứt cuống bông làm lúa bị lép trắng, hoặc gặm hạt lúa đang chín.


Châu chấu lúa

2) Châu chấu tre, phá hại lá tre, nứa, bương, vầu và có thể ăn lan sang cây trồng (ngô, lúa...) gần rừng. Hai loài phá hại nghiêm trọng là châu chấu tre lưng vàng (Ceracris kiangsus) và châu chấu tre lưng xanh (Ceracris nigricornis). Loài châu chấu tre nhỏ ở các bụi tre gai phá hại ít hơn. Thân màu xanh vàng, dài 30 - 40 mm. Châu chấu tre lưng vàng có một đường vàng chạy dọc giữa sống lưng đến cuối cánh; mảnh lưng ngực trước có ba đường vân. Châu chấu tre lưng xanh có một đường vân xanh lục. Trứng hơi cong, màu nâu sẫm, vỏ có vân hình mắt lưới. Hoàn thành một vòng đời trong một năm. Giao phối xong con đực chết, con cái đẻ trứng xong cũng chết (dấu hiệu để điều tra vùng có châu chấu tre). Sâu non sống thành đàn, thường di chuyển theo hướng tây nam. Thích sống nơi râm mát. Năm 1962, ở Việt Nam có nạn dịch châu chấu tre lớn ở huyện Định Hoá (Thái Nguyên), bay rợp trời phá hại trên 300 ha rừng, làm tre trơ cành, rừng khô héo; năm 1971, phát dịch ở rừng luồng tại huyện Ngọc Lạc (Thanh Hoá). Ở vùng Đông Nam Bộ cũng hay có dịch châu chấu tre.


Châu chấu tre

Tên gọi cào cào hoặc châu chấu đang lưu hành ở các địa phương hoặc trong một số tài liệu hiện không thống nhất, thường mang tính địa phương; vd. các tỉnh Miền Bắc gọi các loài có đầu bằng là châu chấu, đầu nhọn là cào cào; còn nhân dân các tỉnh Miền Trung và Nam Bộ gọi ngược lại. Thực chất đặc điểm đầu bằng hoặc đầu nhọn đều không phải là đặc trưng cho từng loài mà là của cả tập hợp loài, thuộc nhiều phân họ khác nhau. Trong khi chưa có tên gọi thống nhất cho từng loài xin chấp nhận tên gọi CC - CC.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Sinh học