Sinh học

BỌ RÙA

Tác giả: Sinh học

BỌ RÙA :

(Coccinellidae), họ côn trùng thuộc phân bộ Cánh cứng ăn tạp (Adephaga), bộ Cánh cứng (Coleoptera). Dài từ 1,3 mm (Microserangium bacthaiense) tới 18 mm (Synonycha grandis), tròn lồi hoặc hình trứng, màu đen, nâu, vàng hoặc nâu có nhiều chấm đen, chấm màu sặc sỡ (BR trắng viền đen khung đỏ Mononeda quichauensis), một số loài có màu sắc báo hiệu đe doạ hoặc tiết ra chất có mùi hôi khó chịu khi bị tấn công nên nhiều loài chim, thú, ếch nhái... trông thấy cũng dửng dưng. Có khoảng 5 nghìn loài. Ở Việt Nam, trước 1970, mới phát hiện được 36 loài, đến 1984, đã phát hiện được gần 250 loài, trong đó có gần 190 loài ăn thịt, nhiều loài phàm ăn, khả năng thích ứng rộng (có tiềm năng sử dụng trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng, vd. các loài Rodolia pumila, Menochilus sexmaculatus, Stethorus tetranychi, Stethorus vietnamica), ngoài ra, cũng có 60 loài thuộc phân họ Bọ rùa ăn thực vật (Epilachninae) hại cây trồng, chủ yếu thuộc họ Cà (Solanaceae) và họ Bầu bí (Cucurbitaceae).

Việt Nam là một trong những trung tâm phát sinh các giống loài BR có 6 chi đặc hữu (chiếm 9,4%) và 123 loài đặc hữu chiếm 50% tổng số loài đã phát hiện,  vd. chi Amida có 7 loài thì 6 loài đặc hữu của khu vực rừng núi Việt Nam, Nam Trung Quốc và Nam Nhật Bản.

Phần lớn BR là các loài ăn thịt (con mồi là rệp cây hại thực vật, một số nhện và ấu trùng sâu bọ) nên BR được coi là một đối tượng có ích trong phòng trừ sâu hại. Sự kiện nhập nội bọ rùa Rodolia cardinalis từ Ôxtrâylia vào Califonia (California; Hoa Kì) năm 1988 để tiêu diệt dịch rệp sáp bông (Icerya purchasi) hại cây ăn quả với tốn kém chưa đầy 1.500 USD đã mở đầu cho kỉ nguyên "phòng trừ sâu hại bằng biện pháp sinh học".

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Sinh học