Quân sự

TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ

Tác giả: Quân sự

TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ:

hoạt động nhằm hạn chế, làm mất hiệu lực các phương tiện vô tuyến điện tử của đối phương và bảo đảm cho các phương tiện vô tuyến điện tử của mình hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy. TCĐT thường gồm: trinh sát điện tử (x. Trinh sát điện tử), chế áp vô tuyến điện tử và bảo vệ vô tuyến điện tử. Chế áp vô tuyến điện tử nhằm phá rối hoạt động hoặc làm giảm hiệu quả sử dụng của các phương tiện vô tuyến điện tử của đối phương bằng cách tạo nhiễu vô tuyến điện, tạo mục tiêu giả mà đối tượng là các phương tiện định vị vô tuyến điện, thông tin vô tuyến điện, dẫn đường vô tuyến điện... Bảo vệ vô tuyến điện tử nhằm bảo đảm cho các phương tiện vô tuyến điện tử của mình hoạt động ổn định và có hiệu quả, bao gồm: phòng chống đối phương chế áp vô tuyến điện tử, vô hiệu hoá hoặc tiêu diệt các phương tiện tự dẫn. Đối tượng bảo vệ vô tuyến điện tử là các phương tiện định vị vô tuyến điện tử, thông tin vô tuyến điện tử, phương tiện chỉ huy và các vật thể có thể là mục tiêu của các phương tiện điện tử tự dẫn của đối phương. Muốn bảo vệ vô tuyến điện tử có hiệu quả, cần phải thực hiện các biện pháp tổ chức và kĩ thuật thích hợp, các nhân viên phải được huấn luyện tốt. TCĐT là một loại bảo đảm chiến dịch (trận chiến đấu). Trước đây TCĐT còn được gọi là chiến tranh điện tử, đấu tranh điện tử. Trong Chiến tranh vùng Vịnh (1991), Mĩ đã sử dụng nhiều vệ tinh trinh sát thông tin và tình báo điện tử để thu và nghe trộm thông tin vô tuyến điện, theo dõi sự liên lạc giữa các lực lượng, thu thập tình báo điện tử rađa của Irăc. Ngoài ra, trước khi nổ súng 5 - 9 giờ đồng hồ, Mĩ đã sử dụng máy bay gây nhiễu điện tử, thực hiện chế áp thông tin và sử dụng "thảm điện tử" để theo dõi việc chỉ huy của quân đội Irăc. Trong Chiến tranh vùng Vịnh, quân đội Irăc dường như không có phản ứng gì trước việc gây nhiễu điện tử, máy bay cất cánh phần lớn bị bắn rơi, tên lửa đất - đất và đất - không hầu như không phóng được.

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Quân sự