Nông nghiệp

SẢN LƯỢNG

Tác giả: Nông nghiệp

SẢN LƯỢNG:

chỉ tiêu biểu hiện kết quả hoạt động sản xuất trong một thời kì nhất định (thường là tháng, quý, năm) của cơ sở sản xuất, liên hiệp xí nghiệp, công ti, của cả một ngành sản xuất vật chất hoặc của toàn nền kinh tế quốc dân. SL thường được tính bằng đơn vị hiện vật khi tính cho một ngành sản xuất vật chất, hoặc bằng tiền khi tính cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau. Chỉ tính vào SL những gì là kết quả trực tiếp và hữu ích do cơ sở sản xuất đã làm ra. Như vậy, những vật tư và tài sản cố định không dùng đem bán đi, các phế liệu, phế phẩm bán đi, dù có mang lại thu nhập cho cơ sở sản xuất cũng không được tính là SL. SL nông nghiệp được tính bằng tổng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định hay trên một diện tích nhất định. Trong trồng trọt, chỉ tiêu SL và giá trị SL là chỉ tiêu trung tâm trong kế hoạch khoán cho một đội sản xuất, hay một hộ nông dân, trong một hợp tác xã nông nghiệp. Đối với mỗi cây trồng, trên cơ sở xác định từng hạng ruộng đất và năng suất mỗi loại giống, mà tính ra mức SL và giá trị SL giao khoán. Trong chăn nuôi, dựa theo kế hoạch phát triển chăn nuôi trâu bò, lợn, gia cầm, mà định ra các chỉ tiêu SL thịt, sữa, trứng, SL thức ăn, đồng cỏ... Đối với từng loại sản phẩm, có thể định chi tiết thêm, vd. SL sữa một chu kì vắt sữa 300 ngày ở bò sữa là 4.000 kg, ở trâu sữa -  1.000 kg; SL mỡ sữa tính bằng cách nhân tỉ lệ mỡ sữa (bơ) với SL sữa chu kì, chia cho 100. Trong lâm nghiệp, SL rừng là khối lượng lâm sản có thể lấy ra qua một mùa hay một năm khai thác, đối với một khu rừng, tính theo trữ lượng rừng, hoặc tính theo cách bài cây cụ thể ở một số ô tiêu chuẩn. Trong ngành thuỷ sản, SL được phân ra thành nhiều loại (xt. Sản lượng thuỷ sản).

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Nông nghiệp