Múa

BALÊ

Tác giả: Múa

BALÊ :

(Ph. ballet, I. balletto), một loại hình nghệ thuật sân khấu mà hình tượng nghệ thuật được thể hiện bằng ngôn ngữ âm nhạc và động tác múa. Tham gia xây dựng một vở B gồm có tác giả kịch bản (cốt truyện), nhạc sĩ (âm nhạc), biên đạo (dàn dựng múa), hoạ sĩ (trang trí, phục trang). Có tác phẩm B không có cốt truyện, múa chỉ thể hiện nội dung hình tượng âm nhạc có sẵn (có khi không dành cho B). B sử dụng trong vở diễn nhiều loại múa khác nhau: cổ điển, tính cách, dân gian, vũ hội. Có biên đạo dùng cả nhào lộn, nhịp điệu hình thể. Để góp phần làm sáng tỏ nội dung, kịch câm cũng được B sử dụng làm phương tiện thể hiện quan trọng. B xuất hiện vào thời kì Phục hưng ở Châu Âu. Italia được coi là nơi xuất hiện B sớm nhất (1489). B phát triển mạnh ở Pháp trong nửa sau thế kỉ 17 và được hoàn thiện với tư cách một loại hình sân khấu độc lập vào cuối thế kỉ 18, sau cải cách của Nôve (J. G. Noverre) và những người kế tục ông. Ngày nay, B phát triển ở khắp các châu trên toàn thế giới. Ở Nga, B phát triển mạnh vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Có nhiều vở B rất nổi tiếng như "Người đẹp đang ngủ" (1890); "Hồ thiên nga" (1895) của Traikôpxki (P. I. Chaikovskij); "Rômêô và Juyliet" (1940) của Prôkôfiep (S. S. Prokof’ev); "Xpactac" (1968) của Khachaturian (A. I. Khachaturjan). Ở Việt Nam, B bắt đầu xuất hiện từ 1960. Các nghệ sĩ Việt Nam đã sáng tác một số vở B: "Xô Viết Nghệ Tĩnh", "Tấm Cám", và diễn các vở B cổ điển của Châu Âu "Hồ thiên nga", "Giden", vv.

Múa balê

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Múa