Mĩ thuật

MĨ THUẬT VIỆT NAM

Tác giả: Mĩ thuật

MĨ THUẬT VIỆT NAM:

lịch sử nền mĩ thuật của Việt Nam có tới 54 dân tộc phát triển rất đa dạng, phong phú qua nhiều thời kì, nhiều giai đoạn với những đặc trưng riêng, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng nền văn hoá, xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc:

1) Mĩ thuật thời tiền sử và sơ sử: Kể từ các vật dụng, các công cụ sinh hoạt của con người đã có ý thức đưa cái đẹp vào để trang trí, vd. thời đại đồ đá mới có những chiếc rìu đá hình dáng ổn định, mài dũa chau chuốt, công phu. Đồ đất nung ở di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Đậu ... khắc vạch nhiều hoa văn các loại. Cũng đã xuất hiện một số hiện vật có thể coi là những tác phẩm tạo hình như bức chạm đầu người, đầu thú trên vách hang Đồng Nội thuộc văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn, sơ kì đồ đá mới, niên đại khoảng trên dưới 1 vạn năm cách ngày nay. Tượng đầu gà bằng đất nung ở Đồng Đậu; tượng người bằng đá ở di chỉ Văn Điển thuộc văn hoá Phùng Nguyên, thuộc sơ kì đồng thau khoảng nửa đầu thiên niên kỉ 2 tCn.

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thời tiền sử và sơ sử: đỉnh cao là giai đoạn đồ đồng Đông Sơn với hình người, hình chim, thú vật, thuyền vừa thực vừa cách điệu đến lạ lùng đã hình thành một phong cách ổn định.

2) Mĩ thuật cổ của các dân tộc ít người ở Việt Nam: cư trú từ Bắc vào Nam đã ghi đậm những nét văn hoá riêng như trang trí trên trang phục, trên đồ trang sức, trên công cụ lao động và vũ khí. Các kiểu dáng hoa văn với một dạng thức cấu trúc đường diềm hình học kỉ hà, vòng tròn đồng tâm, cho ta thấy mỗi liên quan với bố cục đồ án trang trí trên đồ đồng văn hoá Đông Sơn. Phần nổi nhất là điêu khắc đá (tượng tròn, phù điêu) và kiến trúc đền tháp Champa, tượng nhà mồ Tây Nguyên trên chất liệu gỗ cùng với sự phát triển của dòng tranh thờ miền núi của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, vv.

3) Mĩ thuật thời Lý (thế kỉ 11 - 12): chủ yếu còn lại một số tượng đá như các tượng Kim Cương ở chùa Long Đọi (Hà Nam), tượng Phật Adiđà chùa Phật Tích (Bắc Ninh); một số di vật bằng đá và đất nung mang tính trang trí gắn liền với kiến trúc chùa, tháp như bệ tượng đá chạm sư tử, thành bậc chạm chim phượng chùa Bà Tấm (Hà Nội), chùa Hương Lãng (Hải Dương), thành bậc chạm thiếu nữ múa tháp Chương Sơn (Nam Định), tượng người chim đánh trống, đánh chũm choẹ chùa Phật Tích, chùa Long Đọi (Hà Nam), cột đá chạm rồng chùa Dạm (Bắc Ninh), vv.

4) Mĩ thuật thời Trần (thế kỉ 13 - 14): với các chất liệu gỗ, đá, đồng, đất nung và gốm. Công trình kiến trúc tôn giáo còn tồn tại giữ được nhiều dấu ấn nghệ thuật thời Trần như chùa Thái Lạc (Hải Dương); chùa Bối Khê (Hà Tây), một phần chùa Phổ Minh (Nam Định) với những mảng chạm khắc gỗ trang trí, kiến trúc với bệ đá chạm rồng và garuda và các con vật như cá sấu, rồng thành bậc - khu lăng các vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường (Thái Bình) có một số tượng thú. Đồ đồng có chuông chùa Vân Bản (Đồ Sơn, Hải Phòng), vòng cáng, bàn đạp, yên ngựa (chùa An Sinh) chạm khắc hình rồng. Đồ gốm Trần với nhiều vật phẩm kích thước tương đối lớn như chậu, thạp. Gốm hoa nâu là dạng điển hình của thời Trần.

 Đặc điểm phong cách nghệ thuật thời Trần: đường nét phóng khoáng, khoẻ khoắn. Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản. Đề tài phong phú hơn thời Lý, đặc biệt là trên đồ gốm xuất hiện nhiều hình ảnh các con thú. Rồng còn nhiều nét của thời Lý nhưng đầu đã có sừng, chân 4 móng, khúc cuộn ở thân doãng hơn.

5) Mĩ thuật thời Lê sơ (thế kỉ 15): các di tích có dấu ấn nghệ thuật thời này không nhiều lắm, chủ yếu tập trung ở khu Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Đây là quê hương đồng thời cũng là nơi dấy lên cuộc khởi nghĩa để giành lại chủ quyền của đất nước. Tại Lam Sơn, còn lại dấu vết và một số di vật của điện Lam Kinh (Tây Kinh, kinh đô thứ hai sau Đông Đô) đồng thời có một số lăng tẩm của các vua và hoàng hậu thời Lê sơ. Nhìn chung, do chính sách nhà Lê lúc này tập trung khuyến khích phát triển kinh tế và cải cách xã hội, không chạy theo lối sống xa hoa, nên ngay các lăng tẩm ở Lam Sơn cũng rất đơn giản, khiêm tốn. Riêng nghệ thuật gốm thời Lê sơ với sự ra đời của đồ gốm hoa lam đã mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử gốm Việt Nam.

6) Mĩ thuật thời Mạc (thế kỉ 16): thời Mạc còn để lại khá nhiều dấu ấn nghệ thuật qua các loại hình kiến trúc, điêu khắc và gốm. Công trình kiến trúc tôn giáo có nhiều mảng chạm khắc gỗ trang trí, có niên đại khẳng định (niên hiệu Sùng Khang thế kỉ 16) như đình Lỗ Hạnh (Bắc Ninh). Cùng phong cách nghệ thuật đó có đình Tây Đằng (Hà Tây), chùa Cói (Vĩnh Phúc). Một số chùa có tượng tạc ở thời Mạc bằng chất liệu gỗ hoặc đá, tượng Quan Âm nhiều tay bằng gỗ phủ sơn son thiếp vàng cao 3 m của chùa Hội Hạ (Tam Đảo, Vĩnh Phúc); tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt cao 3,10 m ở chùa Tam Sơn (Bắc Giang), tượng gỗ sơn son thiếp vàng hơn một nghìn tay; pho Quan Âm nhiều tay bằng gỗ phủ sơn chùa Đa Tốn (Gia Lâm, Hà Nội). Đó là những tác phẩm điêu khắc có giá trị. Về gốm, thời kì này khá phong phú, có những loại hình mới; kích thước trung bình và lớn như chân đèn, lư hương, bình hoa trang trí kết hợp giữa vẽ và in nổi rất hài hoà. Một số hiện vật có ghi niên đại và tên người làm. Tranh dân gian có thể ra đời từ thế kỉ 16.

7) Mĩ thuật thời Lê Trung hưng (thế kỉ 17 - 18): phong phú, đa dạng về loại hình và chất liệu. Điêu khắc tượng tròn có các tượng Phật, tượng các vị La Hán, tượng các vị tổ sư Tây Thiên, tượng hầu, tượng hậu tạc bằng gỗ, đá hoặc đắp bằng đất trong nhiều chùa. Những pho tiêu biểu và có giá trị nhất trong giai đoạn này phải kể đến tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, cao 3 m ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh); sau đó là tượng các bà hoàng vợ vua Lê Thần Tông ở chùa Mật (Đông Sơn, Thanh Hoá), tượng hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và công chúa Lê Thị Ngọc Duyên ở chùa Bút Tháp, các tượng Bồ Tát ở chùa Đông Dương (Hải Dương). Tượng đá phần lớn nằm ở các lăng mộ của quan lại gồm quan hầu, voi, ngựa, lân, chó có kích thước khá lớn và số lượng nhiều.

Phù điêu trang trí kiến trúc cũng là loại hình phát triển mạnh mẽ, đặc biệt các mảng chạm khắc, trang hoàng ở đình Thổ Tang (Bắc Ninh), Hương Canh, Ngọc Canh (Vĩnh Phúc), đình Thổ Hà, Phù Lão (Bắc Ninh), đình Hoàng Xá, Liên Hiệp (Hà Tây), thể hiện nhiều đề tài sinh hoạt dân dã rất phong phú và đa dạng. Đồ thờ tự và vật dụng bằng gốm, đồng còn tồn tại tới nay cũng đáng chú ý. Đồ gốm có nhiều loại hình, nhiều kích cỡ, sử dụng nhiều mầu men, bút pháp trang trí khoáng đạt.

8) Mĩ thuật thời Tây Sơn (cuối thế kỉ 18): giai đoạn này thời gian tương đối ngắn nên về phương diện mĩ thuật không bộc lộ ở nhiều loại hình như các thời trước. Tuy nhiên, trong một vài loại hình lại nổi lên những đặc điểm khá sắc nét. Tranh thờ, tranh sinh hoạt vẽ theo chiều dọc có trục treo còn lưu lại khá nhiều. Trong đó đáng chú ý tới 2 sưu tập ở Vũ Di (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) và Độc Lôi (Nam Đàn, Nghệ An) là những tranh được thể hiện bằng bút pháp đường nét tinh tế điêu luyện, màu sắc hài hoà. Điêu khắc, đặc biệt là điêu khắc trang trí kiến trúc và tượng thời Tây Sơn tuy không nhiều nhưng đã tạo được một phong cách riêng có giá trị nghệ thuật cao. Như tượng Tuyết Sơn, tượng 8 vị Kim Cương, tượng 18 vị Tổ phái Thiền tông Tây Thiên ở chùa Tây Phương (Hà Tây) là các tác phẩm nổi tiếng nhiều người biết tới.

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thời Tây Sơn: đường nét, mảng khối khoẻ khoắn, dứt khoát, mang tính hiện thực cao, tính miêu tả rõ nét, sắc sảo, đặc biệt ở loại hình điêu khắc tượng tròn.

9) Mĩ thuật thời Nguyễn (thế kỉ 19): hầu như được tách ra làm hai hướng. Một hướng của triều đình tập trung cho các cung điện và các lăng tẩm nhà vua ở Huế. Quy mô, tầm cỡ lớn hơn những thời trước đó nhưng nghệ thuật cũng không có gì nổi trội hơn. Tuy nhiên, đã hoạch định được một phong cách cung đình ổn định để ngày nay xứng đáng được công nhận là di sản văn hoá thế giới. Hướng thứ hai là hướng nghệ thuật lan toả rộng rãi trong nhân dân như chạm khắc trang trí đình làng, tượng ở đền chùa, tranh thờ, tranh dân gian, đồ gốm, đồ thủ công mĩ nghệ vẫn phát triển và tiếp nối được truyền thống.

Những công trình có giá trị như tháp chùa Cổ Lễ (Nam Định), tháp chùa Liên Phái (Hà Nội), tháp chùa Thiên Mụ (Huế), pho tượng Thánh Gióng bằng đồng kích thước tương đối lớn ở Gia Lâm (Hà Nội) và Kim Anh (Vĩnh Phúc), đình Chèm (Hà Nội), đình Nhâm Lý (Hải Dương), lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, các cung điện ở Huế.

 10) Mĩ thuật Việt Nam cận hiện đại thế kỉ 20: a) Thời kì trước Cách mạng tháng Tám 1945: cuối thế kỉ 19, Lê Huy Miến, người Việt Nam đầu tiên tiếp cận hội hoạ Châu Âu do sang Pháp học hội hoạ. Hiện nay, mới tìm được hai tác phẩm sơn dầu vẽ năm 1898: "Bình văn", "Chân dung của cụ tú Mến". Năm 1925, người Pháp mở Trường Mĩ thuật Đông Dương (1925 -45) tại Hà Nội do Tacđiơ (V. Tardieu) làm hiệu trưởng và Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ người đồng sáng lập. Lớp hoạ sĩ đầu tiên được đào tạo đã tiếp nhận phương pháp sáng tác nghệ thuật tạo hình phương Tây, tiếp thu tinh hoa các trường phái Châu Âu, Châu Á trên cơ sở những thành tựu của văn hoá dân tộc, họ đã tạo nên những thành tựu mới cho hội hoạ và điêu khắc Việt Nam hiện đại. Nguyễn Phan Chánh đã mở đầu bằng một loạt tranh lụa: "Chơi ô ăn quan" (1930), "Rửa rau trên cầu ao" (1931), "Em bé cho chim ăn" (1931), đem lại sự chú ý của các báo chí phương Tây qua cuộc trưng bày tại Hội chợ quốc tế các thuộc địa Pháp tại Pari (1931). Tiếp đó, tranh lụa được phát triển, Lê Văn Đệ: "Cô Dâu" (1937), Nguyễn Văn Long: "Thiếu nữ chải tóc" (1941), Lương Xuân Nhị: "Gia đình thuyền chài" (1938), Nguyễn Tiến Chung: "Đi chợ Tết" (1940), Nguyễn Tường Lân: "Hiện vẽ Hoa" (1934), Mai Trung Thứ: "Hoà nhạc". Tranh khắc gỗ màu (estampe) của Đỗ Đức Thuận: "Thuyền sông Hồng" (1930), Nguyễn Văn Tỵ: "Hai cô Mường" (1937).

Tranh sơn dầu cuả Lê Phổ: "Chân dung thiếu phụ" (1935), Tô Ngọc Vân: "Thuyền sông Hương" (1935), "Hai thiếu nữ và em bé" (1944), Trần Văn Cẩn: "Em Thuý" (1944). Thời kì này, chất liệu sơn ta vốn có truyền thống trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí và ứng dụng đã được các hoạ sĩ kết hợp với nghệ nhân Đinh Văn Thành nghiên cứu thể nghiệm kĩ thuật cổ truyền của nghề sơn đã đưa chất liệu sơn nhựa vào sáng tác hội hoạ. Nguyễn Gia Trí đã có những thành công bậc thầy trong sáng tác hội hoạ sơn mài: "Thiếu nữ bên Hồ Gươm" (1941), "Thiếu nữ bên cây phù dung" (1944). Nguyễn Khang: "Đánh cá đêm trăng" (1943). Vũ Cao Đàm, Gioocgiơ Khánh là những nhà điêu khắc đã có nhiều tác phẩm thành công. Phạm Gia Giang cũng đã sử dụng thành tựu của chất liệu sơn ta trong bức đắp nổi "Hạnh phúc" (1940). Khuynh hướng sáng tác thời kì này chủ yếu là hiện thực có phần xu hướng lãng mạn.

b) Thời kì sau Cách mạng tháng Tám: những tác phẩm hội hoạ và điêu khắc chủ yếu được sáng tác rút ra từ hiện thực cách mạng Việt Nam qua hai cuộc Kháng chiến chống Pháp, Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một số tác phẩm tiêu biểu: Tô Ngọc Vân: "Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc bộ phủ" (1946), "Xưởng quân giới" (1951) và một loạt tranh chì, màu nước về cải cách ruộng đất và bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1953 - 54; Nguyễn Hiêm: "Trận Tầm Vu" (1948); Nguyễn Sĩ Ngọc: "Cái bát" (1949); Nguyễn Sáng: "Giặc đốt làng tôi" (1954), "Kết nạp Đảng trong chiến dịch Điện Biên Phủ" (1963); Trần Văn Cẩn: "Con đọc bầm nghe" (1954), "Du kích vùng biển" (1960), "Tát nước đồng chiêm" (1958); Nguyễn Tư Nghiêm:"Ông Gióng" (1970), "Điệu múa cổ" (1970); Nguyễn Đỗ Cung: "Bộ đội Nam tiến" (1947), "Công nhân cơ khí" (1962); Hoàng Tích Chù: "Tổ đổi công miền núi" (1958); Huỳnh Văn Gấm: "Trái tim và nòng súng" (1960); Dương Bích Liên: "Đêm hành quân" (1962); Phan Kế An: "Nhớ một chiều Tây Bắc" (1955); Thái Hà: "Trước giờ xuất kích" (1972); Huỳnh Văn Thuận: "Thôn Vĩnh Mốc" (1958); Nguyễn Trọng Kiệm: "Xâu kim" (1958); Đặng Thị Khuê:"Giặc Mĩ" (1980); Quách Phong: "Giải phóng quân" (1985); Huỳnh Phương Đông: "Trận ấp Bắc" (1963).

Về điêu khắc, có các tác phẩm của Diệp Minh Châu: "Võ Thị Sáu" (1960), "Bác Hồ bên suối Lênin" (1980); Phạm Xuân Thi: "Nắm đất Miền Nam" (1955); Nguyễn Thị Kim: "Chủ tịch Hồ Chí Minh" (1946); "Hạnh Phúc" (1949); Phạm Mười: "Vót chông" (1964); Nguyễn Hải: "Anh Trỗi" (1973); Tạ Quang Bạo: "Đảo tiền tiêu" (1980); Hứa Tử Hoài:"Song Sly" ;Lê Công Thành: "Bà má nghiền trầu" (1973).

Đặc điểm nghệ thuật thời kì này không chỉ có bản sắc dân tộc mà còn mang tính chiến đấu đậm nét nhân văn. Nhiều tác phẩm đã phản ánh sự nghiệp anh hùng của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh cách mạng cũng như xây dựng đất nước. Tính chất đó đã tạo nên sự phong phú về nội dung tư tưởng cũng như đa dạng về phong cách biểu hiện của nền nghệ thuật hiện thực.

 

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Mĩ thuật