Kinh tế học

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tác giả: Kinh tế học

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:

sự gia tăng sản lượng thực tế theo thời gian của một nền kinh tế, góp phần quan trọng đối với sự phồn vinh chung của xã hội. TTKT tạo điều kiện cho cộng đồng tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ tư nhân nhiều hơn và góp phần cung cấp số lượng lớn hơn hàng hoá và dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục...), qua đó cải thiện mức sống thực tế. Đạt được tỉ lệ TTKT cao là một trong bốn mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô.

Nhà kinh tế học Hoa Kì Kuznet (S. Kuznets; 1901 - 85) đã đưa ra định nghĩa mang tính điển hình về TTKT: "... là sự tăng lên trong thời kì dài năng lực cung cấp cho dân cư những loại sản phẩm kinh tế ngày càng phong phú; năng lực tăng trưởng không ngừng đó được xây dựng trên cơ sở kĩ thuật tiên tiến và sự điều chỉnh tương ứng của chế độ và ý thức tư tưởng cần có". Định nghĩa này là sự khái quát cao sự TTKT của các nước, được giới kinh tế học tiếp thu rộng rãi. Tổng kết kinh nghiệm TTKT của các nước, ông đưa ra 6 đặc trưng của TTKT: 1) Tỉ lệ tăng trưởng cao của sản lượng tính theo nhân khẩu và tỉ lệ tăng trưởng cao của nhân khẩu. 2) Sự tăng trưởng nhanh của tỉ lệ sản xuất, phản ánh việc nâng cao hiệu quả sản xuất do tiến bộ kĩ thuật tạo ra. 3) Tốc độ biến đổi cơ cấu kinh tế cao, trong đó bao gồm nông nghiệp chuyển dịch sang phi nông nghiệp, công nghiệp chuyển dịch sang ngành dịch vụ, cơ cấu tiêu dùng, cơ cấu xuất nhập khẩu... thay đổi. 4) Sự thay đổi nhanh của cơ cấu xã hội và hình thái ý thức, bao gồm đô thị hoá, sự phân li giáo dục và tôn giáo, vv. 5) Tăng trưởng mở rộng nhanh trên phạm vi thế giới; sự phát triển của giao thông và thông tin đã thúc đẩy sự mở rộng này. 6) Tình hình tăng trưởng thế giới là không đồng đều, khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển tương đối lớn. Trong những đặc trưng này, 2 đặc trưng đầu thuộc đặc trưng số lượng, 2 đặc trưng giữa là đặc trưng cơ cấu, 2 đặc trưng cuối là đặc trưng lan toả quốc tế.

TTKT thường được tính bằng mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặc mức tăng GDP/đầu người theo thời gian.

Đánh giá TTKT không chỉ đơn thuần về số lượng, mà phải xét về sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, đời sống tinh thần và văn hoá của dân cư, sự công bằng xã hội trong phân phối và sự phát triển hài hoà của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ tài nguyên và môi trường sống, vv. Quá trình TTKT thường có những giai đoạn đặc trưng, chủ yếu là ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn cất cánh và giai đoạn giữ vững và tích luỹ. Những yếu tố chủ yếu và là nguồn lực của tăng trưởng: dân số, lao động, con người, tài nguyên thiên nhiên, vốn và đầu tư; tiềm lực khoa học kĩ thuật; các nguồn lực ngoài nước thông qua quan hệ đối ngoại, mở rộng hợp tác kinh tế và giao lưu với thị trường thế giới. Nhà nước Việt Nam xác định chính sách tăng trưởng bằng một chiến lược cho một thời kì tương đối dài (trên một thập kỉ) và bằng kế hoạch dài hạn, bằng hợp tác đầu tư, bằng công nghiệp hoá và thực hiện chiến lược cơ cấu kinh tế mở, vv. Đến nay, Việt Nam có mức tăng trưởng cao thứ hai ở Châu Á (năm 2004 đạt 7,7%), sau Trung Quốc.

 

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Kinh tế học