Hoá học

PHÈN NHÔM

Tác giả: Hoá học

PHÈN NHÔM:

gồm hai loại:1. PN đơn: Al2.(SO­4)3.18H2O.

2. PN kép: muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni. Vd. a) Kali nhôm sunfat hay PN kali (thường gọi: phèn chua) [KAl(SO4)2.12H2O hay K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]: Tinh thể lớn hình bát diện, trong suốt, không màu,vị chát, cảm giác se lưỡi; khối lượng riêng 1,75 g/cm3; tnc= 92oC; đun nóng đến 200oC thì mất nước kết tinh, thành phèn khan ở dạng bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) ít tan trong nước. Dung dịch phèn chua có tính axit, không độc. Tinh thể phèn tan trong nước tạo màng hiđroxit lắng xuống kéo theo các chất bẩn lơ lửng trong nước, vì vậy, dùng để làm trong nước; làm chất cầm màu trong nhuộm vải; chất kết dính trong công nghiệp sản xuất giấy; thuốc thử trong các phòng thí nghiệm. Trong y học, dùng làm thuốc cầm máu bề mặt, lau rửa bộ phận cơ thể ra nhiều mồ hôi, rửa niêm mạc miệng, họng; làm thuốc rắc kẽ chân. Theo y học cổ truyền, còn gọi phèn chua là bạch phèn. Bạch phèn có tính hàn, vào kinh tì, giải độc, sát khuẩn, cầm máu, chữa viêm dạ dày, ruột; dùng thêm các vị thuốc khác chữa đau răng. Phèn phi trộn với bột lưu huỳnh tán nhỏ và tá dược dùng bôi nách sau mỗi lần tắm để chữa chứng hôi nách.

b) Amoni nhôm sunfat hay PN amoni [(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)]: tinh thể không màu, khối lượng riêng 1,65 g/cm3, tnc = 94,5oC. Dễ tan trong nước. Cũng dùng làm trong nước; là một thành phần của bột nở, bột chữa cháy; dùng trong mạ điện; trong y học, dùng làm thuốc lợi tiểu, gây nôn.

 

 

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Hoá học