Hoá học

KHÍ THAN

Tác giả: Hoá học

KHÍ THAN:

hỗn hợp khí tạo thành trong quá trình tạo cốc từ than đá (xt. Khí hoá than). Cứ mỗi tấn nguyên liệu sinh ra 340 - 350 m3 khí than. Thành phần theo thể tích của khí than: 58 - 62% H2 (hiđro), 24,5 - 26,5% CH4 (metan), 5 - 6,7% CO (cacbon monoxit), 1,6 - 3% CO2 (khí cacbonic), 2 - 3,5% N2 (nitơ), 2 - 2,5% CmHn (hiđrocacbon), 0,4 - 0,8% O2 (oxi). Khối lượng riêng 0, 44 - 0,46 kg/m3 ở 0oC, nhiệt cháy 18 - 18,5 MJ/m3, tỉ nhiệt 1,35 (kJ/m3.K). Dễ nổ, giới hạn nổ 6 - 30%. Độc. Được sử dụng làm nhiên liệu trong công nghiệp.

Từ KT tách được benzen thô, amoniac, hiđro sunfua, hiđro xianua, piriđin, vv.; hiđro tách từ KT dùng để tổng hợp amoniac, để hiđro hoá làm sạch các phân đoạn dầu mỏ. Khuynh hướng sử dụng KT ngày càng giảm do: sự cạnh tranh của dầu mỏ (đầu tư thiết bị ít, giá rẻ, thuận tiện trong thao tác); sự phát hiện quá trình chuyển hoá khí thiên nhiên thành nguyên liệu cho tổng hợp hoá học, quá trình hoá lỏng khí thiên nhiên, khí đồng hành trong dầu mỏ; nguồn khí thiên nhiên ngày càng được khai thác ở quy mô lớn. Trong những năm 40 - 45 thế kỉ 20, ở Việt Nam có dùng KT phát sinh từ lò khí hoá than gỗ kèm ô tô để chạy máy nổ trong ô tô. Hiện nay, chủ yếu dùng KT làm nhiên liệu cho các lò nhiệt độ cao (Nhà máy Sứ Hải Dương, Nhà máy Thuỷ tinh Hải Phòng, vv.); làm nguyên liệu cho tổng hợp NH3 (Công ti phân đạm và hoá chất Hà Bắc).

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Hoá học