Hoá học

HOÁ TRỊ

Tác giả: Hoá học

HOÁ TRỊ:

một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nguyên tố hoá học và đã được phát triển theo sự phát triển của khoa học. Khái niệm HT được nhà hoá học người Anh Franklen (E. Frankland) đưa ra lần đầu tiên (1852). Ban đầu, khái niệm HT mang đặc tính hợp thức và được rút ra từ định luật đương lượng: HT là tỉ số của nguyên tử khối và đương lượng của nguyên tố hoá học.

Thuyết nguyên tử - phân tử ra đời làm cho HT có một ý nghĩa nhất định về cấu trúc. HT của nguyên tố được coi là khả năng của một nguyên tử nguyên tố đó có thể kết hợp với bao nhiêu nguyên tử của nguyên tố khác. Khả năng kết hợp của nguyên tử hiđro (H) được lấy làm đơn vị HT vì hiđro có nguyên tử khối và đương lượng bằng nhau. Đối với những nguyên tố không tạo nên hợp chất với hiđro, HT của chúng được xác định bằng khả năng thay thế số nguyên tử hiđro trong phân tử. Như vậy, hoá trị của nguyên tố là số nguyên tử hiđro mà một nguyên tử của nguyên tố có thể kết hợp thành phân tử hay thay thế trong phân tử, vd. clo (Cl) có hoá trị một trong HCl, oxi (O) có hoá trị 2 trong H2O, natri (Na) có hoá trị một trong NaOH. HT của các nguyên tố được xác định trên cơ sở đó. Nhưng nhiều nguyên tố có hoá trị khác nhau trong các hợp chất, nhất là hợp chất của một số nguyên tố với hiđro, với oxi. Vd. lưu huỳnh (S) có hoá trị hai trong H2S nhưng có hoá trị 6 trong SO3. Bởi vậy, người ta đi đến phân biệt hoá trị của nguyên tố tính theo hiđro và hoá trị của nguyên tố tính theo oxi. Về sau người ta biết hoá trị của một nguyên tố tính theo oxi trong các hợp chất khác nhau có giá trị khác nhau. Vd. sắt (Fe) có hoá trị hai trong FeO, hoá trị ba trong Fe2O3; nitơ (N) có hoá trị hai trong NO, hoá trị ba trong N2O3, hoá trị bốn trong NO2, vv.

Đầu thế kỉ 20, lí thuyết electron về cấu tạo nguyên tử và liên kết hoá học ra đời, HT gắn liền với số electron của nguyên tử tham gia tạo thành liên kết. Trong hợp chất ion, nguyên tử mất electron biến thành ion dương và có hoá trị dương, nguyên tử nhận electron biến thành ion âm có hoá trị âm và hoá trị của nguyên tố bằng số electron mà một nguyên tử mất hay nhận. Đó là điện hoá trị, vd. natri có hoá trị +1 và flo (F) có hoá trị -1 trong NaF, canxi (Ca) có hoá trị + 2 và clo có hoá trị -1 trong CaCl2... Trong hợp chất cộng hoá trị, các nguyên tử liên kết với nhau bằng những cặp electron chung và hoá trị được xác định bằng số electron mà mỗi nguyên tử của nguyên tố góp vào cặp. Đó là cộng hoá trị, vd. hiđro có hoá trị 1 trong H2, H2O; lưu huỳnh có hoá trị hai trong H2S; nitơ (N) có hoá trị ba trong N2, NH3; cacbon (C) có hoá trị bốn trong CH4, CO2, vv.

Vài chục năm gần đây, người ta có khuynh hướng xác định cộng hoá trị của nguyên tố bằng số liên kết cộng hoá trị (số vạch nối trong công thức cấu tạo của phân tử) tạo nên bởi một nguyên tử của nguyên tố trong phân tử.


Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Hoá học