Dân tộc

GIÁP

Tác giả: Dân tộc

GIÁP:

1. Đơn vị hành chính cấp cơ sở một thời kì trong lịch sử Việt Nam. G xuất hiện với việc Khúc Hạo cải cách hành chính sau khi Khúc Thừa Dụ giành lại quyền tự chủ từ chính quyền đô hộ phương Bắc. Trải qua các thời Đinh, Lê, Lý, G luôn là đơn vị hành chính cấp cơ sở. Năm 1297, vua Trần Anh Tông cho đổi G thành hương. Năm 1419, khi nhà Minh xâm lược, đô hộ Việt Nam, G xuất hiện trở lại. Thời Nguyễn, là đơn vị cơ sở trong khẩn hoang vùng ven biển Bắc Bộ. Ngày nay vẫn còn địa danh có chữ G (Giáp Bát, Thanh Trì, Hà Nội).

2. Tổ chức xã hội theo lứa tuổi [lớp tuổi của nam giới người Việt sống trong làng xã thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (từ đèo Ngang trở ra)]. Theo lệ định, tất cả nam giới từ lúc mới sinh tới trước khi chết, nếu có cơi trầu trình G xin vào G đều được công nhận là người của G, được ghi vào danh sách trong sổ bộ của G.

Thứ bậc trong G tính theo tuổi, không theo tôn ti như trong họ tộc, không theo giàu nghèo hay địa vị xã hội cao thấp. Trẻ mới sinh trình làng, vào G; khi tới tuổi 18 trình làng lần nữa được "lên đinh" làm giai đinh, "đinh tráng" là thành viên chính thức của G, được chia ruộng khẩu phần của làng và phải gánh vác việc làng, khi có lễ hội, ăn uống cũng như việc nước (phu, thuế, binh dịch). Tới 49 tuổi lên lão (lão hạng), còn gọi là "ra lão", ra khỏi việc làng việc nước, được miễn "phu dịch", thuế, lính.

Tổ chức G mỗi nơi một vẻ, đại thể như sau: thấp nhất là "lềnh" hay "quan lềnh", trên đó là "cai G" ("cai đám"), "G trưởng", giúp việc cai G có "thư kí". Cai G thay nhau mỗi người làm một năm theo thứ tự ghi trong danh sách sổ G lúc vào G. Còn lềnh là những giai G còn lại. Thường cha ông G nào, con cháu G ấy. Mỗi làng có từ hai tới nhiều G. Vì G không gồm những người cùng trong một xóm hay trong cả họ nên không thể đồng nhất với họ hay coi là một đơn vị cư trú được.

 

Chia sẻ bạn bè twitter google plus facebook in

Các bài khác về Dân tộc